Cấm Kỵ và Đối Phó Với Cấm Kỵ Nhìn Từ Góc Độ Văn Hóa Trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Chuyên khảo văn học phân tích Luận văn văn học việt nam hồ xuân hương phê bình văn học thơ nôm, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2008

164
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lịch sử nghiên cứu tiểu sử, văn bản thơ Hồ Xuân Hƣơng

1.2. Lí do chọn đề tài

2. CHƯƠNG 2: TIỂU SỬ HỒ XUÂN HƢƠNG

2.1. Tiểu sử và các ý kiến nghiên cứu về Hồ Xuân Hương

2.2. Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca

3. CHƯƠNG 3: VĂN BẢN THƠ HỒ XUÂN HƢƠNG

3.1. Văn bản thơ chữ Nôm

3.2. So sánh các bản văn bản thơ Nôm truyền tụng

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Cấm Kỵ và Đối Phó Trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương là một hiện tượng độc đáo trong văn học Việt Nam, đặc biệt ở cách bà đối diện với những cấm kỵ của xã hội phong kiến. Xã hội phong kiến Việt Nam, với hệ tư tưởng Nho giáo làm chủ đạo, áp đặt nhiều hạn chế lên đời sống cá nhân, đặc biệt là về tình dụcthân phận người phụ nữ. Những đề tài này thường bị coi là cấm kỵ trong văn chương chính thống. Tuy nhiên, Hồ Xuân Hương đã phá vỡ những rào cản đó bằng ngòi bút trào phúng, đả kích và đầy tính nhân văn. Bà không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện sự nổi loạncái tôi cá nhân mạnh mẽ, tạo nên một tiếng nói riêng biệt trong thơ ca Việt Nam. Theo nghiên cứu, "Trong mỗi truyền thống văn hóa, ở mỗi thời đại, đối với mỗi thể loại nghệ thuật, lại có những cách thức đối phó với cấm kị khác nhau".

1.1. Bối Cảnh Văn Hóa và Xã Hội Phong Kiến Việt Nam

Xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ Hồ Xuân Hương sống chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo. Nho giáo đề cao quan niệm đạo đức, trật tự xã hội và kiểm soát chặt chẽ đời sống cá nhân, đặc biệt là phụ nữ. Phong tục tập quánquan niệm đạo đức khắt khe đã tạo ra những cấm kỵ trong văn chương, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến tình dụcthân phận người phụ nữ. Việc đề cập đến những vấn đề này bị coi là đi ngược lại giá trị văn hóađạo đức của xã hội. Điều này tạo ra một áp lực lớn đối với các văn nhân, buộc họ phải "tự kiểm duyệt" và né tránh những đề tài nhạy cảm.

1.2. Sự Phá Cách và Độc Đáo Trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nổi bật với sự phá cách và độc đáo trong cách thể hiện. Bà không ngần ngại đề cập đến những cấm kỵ của xã hội, sử dụng ngôn ngữ thơ Nôm dân dã, đời thường để phản ánh hiện thực trần trụi. Nghệ thuật trào phúng, phê phán xã hộitính dục trong thơ của bà là những yếu tố tạo nên sự khác biệt so với văn chương chính thống. Hồ Xuân Hương đã sử dụng biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóachơi chữ một cách tài tình để truyền tải thông điệp một cách sâu sắc và tinh tế. Bà đã kế thừa tinh hoa văn hoá dân gian, văn học dân gian, phát huy cao độ tài năng vốn có của bản thân để tạo nên tiếng thơ độc nhất vô nhị trên diễn đàn văn học nước nhà.

II. Vấn Đề Cấm Kỵ Trong Thơ Hồ Xuân Hương Phân Tích Chi Tiết

Trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, cấm kỵ không chỉ là những rào cản mà còn là đối tượng để bà khai thác và phản kháng. Những cấm kỵ này bao gồm những quy tắc về tình dục, đạo đức, thân phận người phụ nữphê phán xã hội. Bà đã sử dụng nghệ thuật trào phúngchâm biếm để vạch trần sự giả tạo và bất công của xã hội phong kiến. Thơ Hồ Xuân Hương không chỉ là tiếng nói của sự nổi loạn mà còn là tiếng kêu đòi quyền sống, quyền tự do cho người phụ nữ. Theo luận văn, "Trong xã hội chuyên chế phương Đông, để duy trì quyền uy của giai cấp thống trị, có nhiều hình thức cấm kỵ khác nhau. Cấm kỵ dễ thấy nhất là quy định kiêng húy."

2.1. Cấm Kỵ Về Tình Dục và Sự Thể Hiện Trong Thơ

Một trong những cấm kỵ lớn nhất trong xã hội phong kiến là về tình dục. Hồ Xuân Hương đã phá vỡ cấm kỵ này bằng cách miêu tả trực diện những khát khao và nhu cầu tình dục của con người, đặc biệt là người phụ nữ. Bà sử dụng ngôn ngữ táo bạo, hình ảnh gợi cảm và biện pháp tu từ để thể hiện tính dục trong thơ một cách tinh tế và đầy ý nghĩa. Những bài thơ như "Bánh trôi nước", "Quả mít" hay "Cái giếng" đều chứa đựng những ẩn dụ về tình dụcthân phận người phụ nữ.

2.2. Cấm Kỵ Về Thân Phận Người Phụ Nữ và Sự Phản Kháng

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công và hạn chế. Hồ Xuân Hương đã lên tiếng phản kháng lại những bất công đó bằng cách thể hiện sự nổi loạncái tôi cá nhân mạnh mẽ trong thơ. Bà không chấp nhận quan niệm đạo đức khắt khe và những quy tắc áp đặt lên người phụ nữ. Những bài thơ như "Tự tình", "Làm lẽ" hay "Khóc Tổng Cóc" đều thể hiện sự phản khángnỗi đau của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

III. Đối Phó Với Cấm Kỵ Trong Thơ Nôm Phương Pháp Nghệ Thuật

Hồ Xuân Hương đã sử dụng nhiều phương pháp nghệ thuật khác nhau để đối phó với những cấm kỵ của xã hội. Bà sử dụng ngôn ngữ đa nghĩa, hình ảnh tượng trưng, biện pháp tu từnghệ thuật trào phúng để truyền tải thông điệp một cách tinh tế và sâu sắc. Thơ Hồ Xuân Hương không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà còn là sự sáng tạo nghệ thuật độc đáo, thể hiện tài năng và bản lĩnh của một nhà thơ lớn. Theo tài liệu, "Nếu trong văn chương chính thống của Nho gia, việc miêu tả các cơ quan sinh dục hay quan hệ tính giao bị xem là cấm kỵ, cần né tránh thì Hồ Xuân Hương đã trực diện đương đầu với các cấm kỵ đó."

3.1. Sử Dụng Ngôn Ngữ Đa Nghĩa và Hình Ảnh Tượng Trưng

Ngôn ngữ đa nghĩa và hình ảnh tượng trưng là những công cụ quan trọng trong việc đối phó với cấm kỵ của Hồ Xuân Hương. Bà sử dụng những từ ngữ có nhiều lớp nghĩa, những hình ảnh mang tính biểu tượng để truyền tải thông điệp một cách kín đáo và tinh tế. Người đọc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào trình độ và kinh nghiệm của mình. Điều này giúp Hồ Xuân Hương tránh được sự kiểm duyệt và vẫn có thể thể hiện được cái tôi cá nhânsự phản kháng của mình.

3.2. Nghệ Thuật Trào Phúng và Châm Biếm Sâu Cay

Nghệ thuật trào phúngchâm biếm là một trong những đặc trưng nổi bật của thơ Hồ Xuân Hương. Bà sử dụng nghệ thuật này để vạch trần sự giả tạo, bất công và đạo đức giả của xã hội phong kiến. Những đối tượng bị châm biếm thường là những kẻ quyền thế, những người đạo đức giả và những hủ tục lạc hậu. Nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương không chỉ mang tính giải trí mà còn có ý nghĩa phê phán xã hội sâu sắc.

3.3. Biện Pháp Tu Từ và Thủ Pháp Nghệ Thuật Độc Đáo

Hồ Xuân Hương sử dụng nhiều biện pháp tu từthủ pháp nghệ thuật độc đáo để tăng tính biểu cảm và sức mạnh cho thơ. Bà sử dụng ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, chơi chữ và nhiều biện pháp khác để tạo ra những hình ảnh sống động, những âm thanh gợi cảm và những cảm xúc sâu sắc. Những biện pháp tu từ này không chỉ làm cho thơ của bà trở nên hấp dẫn hơn mà còn giúp bà truyền tải thông điệp một cách hiệu quả hơn.

IV. Giá Trị Văn Hóa và Nhân Văn Trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có giá trị văn hóanhân văn sâu sắc. Bà đã phản ánh chân thực hiện thực xã hội, thể hiện sự đồng cảm với thân phận người phụ nữ và lên tiếng đòi quyền sống, quyền tự do cho con người. Thơ Hồ Xuân Hương là một di sản văn hóa quý giá của dân tộc, có giá trị lịch sử, giá trị tư tưởnggiá trị thẩm mỹ to lớn. Theo nghiên cứu, "Luận văn này đặt những bài thơ Nôm đề vịnh của Hồ Xuân Hương vào ngữ cảnh cấm kỵ và đối phó với cấm kỵ trong xã hội chuyên chế phương Đông như thế."

4.1. Phản Ánh Hiện Thực Xã Hội và Thân Phận Người Phụ Nữ

Thơ Hồ Xuân Hương là một tấm gương phản ánh chân thực hiện thực xã hội phong kiến với những bất công, áp bức và đạo đức giả. Bà đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với thân phận người phụ nữ, những người phải chịu nhiều thiệt thòi và đau khổ trong xã hội. Những bài thơ của bà là tiếng nói của những người bị áp bức, là lời kêu gọi công bằng và bình đẳng.

4.2. Giá Trị Nhân Văn và Tinh Thần Phản Kháng Mạnh Mẽ

Thơ Hồ Xuân Hương mang đậm giá trị nhân văntinh thần phản kháng mạnh mẽ. Bà đã lên tiếng bảo vệ quyền sống, quyền tự do và quyền hạnh phúc của con người. Bà không chấp nhận những quy tắc áp đặt và những hủ tục lạc hậu. Thơ của bà là nguồn cảm hứng cho những người muốn thay đổi xã hội, muốn xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

V. Ảnh Hưởng và Di Sản Của Thơ Nôm Hồ Xuân Hương Đến Nay

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam và vẫn còn được yêu thích đến ngày nay. Bà được coi là một trong những nhà thơ lớn nhất của dân tộc, là "bà chúa thơ Nôm" với phong cách độc đáo và tài năng xuất chúng. Thơ của bà đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ và độc giả. Giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuậtgiá trị nhân văn của thơ Hồ Xuân Hương vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy. Theo tài liệu, "Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương là sản phẩm đặc biệt của văn chương trung đại; khi mà các vấn đề của đời sống bản năng bị xem là vùng đất cấm, các tác phẩm này đã sử dụng những phương tiện kỹ thuật riêng để xâm nhập vào vùng đất cấm ấy mà vẫn có thể biện minh."

5.1. Ảnh Hưởng Đến Các Thế Hệ Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam

Thơ Hồ Xuân Hương đã có ảnh hưởng lớn đến các thế hệ nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Phong cách độc đáo, ngôn ngữ táo bạo và tinh thần phản kháng của bà đã truyền cảm hứng cho nhiều người. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã học hỏi và kế thừa những yếu tố này trong sáng tác của mình.

5.2. Giá Trị Vĩnh Cửu và Sự Lan Tỏa Trong Đời Sống Văn Hóa

Giá trị của thơ Hồ Xuân Hương vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục được lan tỏa trong đời sống văn hóa Việt Nam. Những bài thơ của bà được giảng dạy trong trường học, được trình diễn trên sân khấu và được nhắc đến trong các cuộc trò chuyện hàng ngày. Thơ Hồ Xuân Hương là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam.

VI. Kết Luận Thơ Hồ Xuân Hương Tiếng Nói Vượt Thời Gian

Thơ Hồ Xuân Hương là một tiếng nói vượt thời gian, vẫn còn vang vọng đến ngày nay. Bà đã phá vỡ những cấm kỵ của xã hội, thể hiện sự nổi loạncái tôi cá nhân mạnh mẽ, đồng thời phản ánh chân thực hiện thực xã hộithân phận người phụ nữ. Thơ Hồ Xuân Hương là một di sản văn hóa quý giá của dân tộc, có giá trị lịch sử, giá trị tư tưởnggiá trị thẩm mỹ to lớn. Bà xứng đáng là một trong những nhà thơ lớn nhất của văn học Việt Nam. Theo tài liệu, "Tóm lại, “đó là những dấu hiệu không bình thường so với người phụ nữ theo tiêu chí Nho giáo, nhưng lại rất tiêu biểu cho một kĩ nữ ả đào” [106, 298]."

6.1. Tổng Kết Giá Trị Nghệ Thuật và Văn Hóa Của Thơ

Thơ Hồ Xuân Hương là một đỉnh cao của nghệ thuậtvăn hóa Việt Nam. Bà đã sử dụng ngôn ngữ một cách tài tình, tạo ra những hình ảnh sống động và truyền tải những cảm xúc sâu sắc. Thơ của bà không chỉ mang tính giải trí mà còn có ý nghĩa phê phán xã hộinhân văn sâu sắc.

6.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Nghiên Cứu và Bảo Tồn Di Sản

Việc nghiên cứu và bảo tồn di sản thơ Hồ Xuân Hương là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần tiếp tục khám phá những giá trị của thơ bà, truyền lại cho các thế hệ sau và quảng bá ra thế giới. Điều này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam mà còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học nhân loại.

06/06/2025
Luận văn văn học việt nam hồ xuân hương phê bình văn học thơ nôm

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Lịch sử nghiên cứu tiểu sử, văn bản thơ Hồ Xuân Hƣơng I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Như chúng ta đã biết xã hội phong kiến Việt Nam lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống. Văn hóa vốn có đặc điểm khắc phục cái bản năng.

Nhưng con người lý tưởng của Nho gia là nội thánh ngoại vương, tu kỷ trị nhân. Văn hoá Nho giáo không chỉ khắc phục mà còn áp chế, kiểm soát đời sống bản năng, nhất là bản năng tình dục nên đề tài tình dục là hầu như là mảnh đất cấm kỵ đối với văn học nhà Nho. Nói đến quan hệ tính giao, nói đến quan hệ tình ái nam nữ trong văn chương là một điều cần né tránh. Tất nhiên, không có đạo luật chính thức nào qui định không được kể, tả quyền nam nữ được yêu đương hay làm tình trong văn chương, song các áp lực của đời sống văn hóa xã hội phong kiến buộc các văn nhân “tự kiểm duyệt” mà né tránh.

Trong luận văn này, chúng tôi gọi gọn lại là “cấm kỵ cái bản năng” để chỉ hiện tượng này. Một điều hiển nhiên rằng, con người hiện thực phải cân bằng hài hoà cả bản năng lẫn văn hoá. Nếu con người chỉ có mặt văn hoá, coi nhẹ bản năng là không tưởng hoặc con người chỉ có mặt bản năng thì không được. Hai điều ấy gắn kết với nhau như hai mặt của một tờ giấy, để tạo nên một con người hiện thực, tồn tại trong cuộc sống thực.

Có thể cấm đoán bằng mệnh lệnh, bằng các tín điều đạo đức, thậm chí bằng các hình phạt khắc nghiệt đối với phần bản năng nhưng không thể tiêu diệt được quyền sống bản năng. Freud đã chỉ ra, cái bản năng tính dục chỉ bị ý thức đạo đức chèn ép, đẩy xuống hàng tiềm thức và sẽ hiện ra dưới dạng vô thức. Về phương diện diễn ngôn, bản năng tính dục có thể được biểu đạt bằng những hình thức ngụy trang che đậy nào đó, nhằm đối phó với các cấm đoán. Trong mỗi truyền thống văn hóa, ở mỗi thời đại, đối với mỗi thể loại nghệ thuật, lại có những cách thức đối phó với cấm kị khác nhau.

Mảng 3 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 3 of 107. thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương là một ví dụ sinh động về hình thức đối phó với cấm kị bản năng trong văn hoá truyền thống Việt Nam bằng ngôn ngữ thi ca. Hẳn nhiên, bà chúa thơ Nôm không đơn độc trên con đường chống lại văn hoá bản năng, bà đã kế thừa tinh hoa văn hoá dân gian, văn học dân gian, phát huy cao độ tài năng vốn có của bản thân để tạo nên tiếng thơ độc nhất vô nhị trên diễn đàn văn học nước nhà.

Từ trước đến nay, thái độ và cách lí giải đối với vấn đề tục, dâm trong thơ Hồ Xuân Hương rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Trước cách mạng tháng Tám, nhiều nhà nghiên cứu cho đó là ẩn ức tính dục như Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh… Sau cách mạng, Nguyễn Đức Bính, Chế Lan Viên, Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn và một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng Hồ Xuân Hương dùng lối viết dung tục, dùng cái tục để chế giễu đạo đức phong kiến, hiền nhân quân tử, hạ bệ giải thiêng. Gần đây, trong bối cảnh đổi mới nghiên cứu văn học, Đỗ Đức Hiểu cho rằng đó là ca ngợi sự tự nhiên và Đỗ Lai Thuý lại nghĩ đó là tín ngưỡng phồn thực, không có dâm tục… Chúng tôi nhìn nhận những bài thơ gọi là “dâm”, “tục” ấy dưới một góc độ khác, đặt chúng vào hệ thống các đối phó với cấm kỵ trong văn hoá truyền thống. Trong xã hội chuyên chế phương Đông, để duy trì quyền uy của giai cấp thống trị, có nhiều hình thức cấm kỵ khác nhau.

Cấm kỵ dễ thấy nhất là quy định kiêng húy. Hình thức kiêng húy buộc người ta phải viết chữ Hán thiếu nét hoặc có ký hiệu như dấu nháy và đọc chệch để tỏ rõ có ý thức tôn trọng chữ húy. Trong văn hóa dân gian, để đối phó với những cấm đoán khắt khe áp đặt cho quan hệ nam nữ, người xưa đã che dấu cho quan hệ tự do của nam nữ bằng những kiểu không gian lễ hội khác nhau (không gian đêm rã đám làng La, hang động tối tăm); để đối phó với can thiệp của triều đình phong kiến Nho giáo hóa muốn cấm làng xã thờ các loại “dâm thần” vốn là “hèm” của làng xã, người dân đã đối phó bằng các hình thức che giấu khác nhau như hành lễ vào đêm khuya, như bịa ra các thần phả đáp ứng đúng yêu cầu triều đình. 4 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn.

Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 4 of 107. Luận văn này đặt những bài thơ Nôm đề vịnh của Hồ Xuân Hương vào ngữ cảnh cấm kỵ và đối phó với cấm kỵ trong xã hội chuyên chế phương Đông như thế. Tất nhiên, là một kiểu nghệ thuật ngôn từ, thơ đề vịnh của Hồ Xuân Hương có phương cách đối phó với cấm kỵ riêng của nó. Nếu trong văn chương chính thống của Nho gia, việc miêu tả các cơ quan sinh dục hay quan hệ tính giao bị xem là cấm kỵ, cần né tránh thì Hồ Xuân Hương đã trực diện đương đầu với các cấm kỵ đó.

Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương là sản phẩm đặc biệt của văn chương trung đại; khi mà các vấn đề của đời sống bản năng bị xem là vùng đất cấm, các tác phẩm này đã sử dụng những phương tiện kỹ thuật riêng để xâm nhập vào vùng đất cấm ấy mà vẫn có thể biện minh. Luận văn của chúng tôi sẽ phân tích cụ thể các kỹ thuật này, xem như ở đây hàm chứa một đặc trưng quan trọng của thơ Hồ Xuân Hương. TIỂU SỬ HỒ XUÂN HƢƠNG. Hiện nay, giới ngiên cứu vẫn chưa tìm được tài liệu gốc xác thực nào ghi rõ ràng tên tuổi, địa chỉ quê quán, năm sinh, năm mất, sáng tác thi ca, phần mộ… của Hồ Xuân Hương.

Do vậy, khi bàn về tiểu sử Hồ Xuân Hương, nhiều tranh luận diễn ra, có những ý kiến trái ngược nhau. Hồng Tú Hồng, Lữ Hồ…cho rằng không có nữ sĩ Hồ Xuân Hương, những tác phẩm mà lâu nay gọi là của Hồ Xuân Hương thực ra là sáng tác tập thể của tầng lớp nho sĩ. Trong khi, Trần Thanh Mại, Hoàng Xuân Hãn, Đào Thái Tôn, Lê Trí Viễn, Nguyễn Lộc, Nam Trân, Lê Xuân Sơn, Ngô Cường, Hoa Bằng, Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh, Xuân Diệu, Đỗ Lai Thuý, Trần Đình Sử, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh,…khẳng định có một nhà thơ Hồ Xuân Hương bằng da bằng thịt nhưng chân dung nữ sĩ hiện lên vô cùng rắc rối, và các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều giả thiết khác nhau về cuộc đời của bà. Tổng hợp các tài liệu thu thập được, chúng tôi tạm đưa ra một “lý lịch trích ngang” của nữ sĩ họ Hồ: nguyên quán thuộc xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; là con của Hồ Sĩ Danh (1706 - 1783) với người thiếp họ Hà 5 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn.

Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc Tài liu Lun Vn - Báo Cáo ni bt, c sc, mang giá tr cao vi y các nh dng pdf, w 5 of 107. thuộc tỉnh Bắc Ninh. Chẳng may bố mất sớm, Xuân Hương theo mẹ ra đất Thăng Long sinh sống. Tương truyền, họ ngụ cư tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận gần Hồ Tây (Hà Nội bây giờ), sau đó chuyển đến thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lí Quốc Sư, Hà Nội).

Hồ Xuân Hương được đi học nhưng không nhiều, song có tài năng làm thơ chữ Hán lẫn chữ Nôm. Xuân Hương giao lưu với các tao nhân mặc khách như: Mai Sơn Phủ, Tốn Phong Thị, Cư Đình, Thạch Đình, Chí Hiên, Thanh Hiên, Hiệp trấn Sơn Nam thượng Trần Ngọc Quán, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Trần Quang Tĩnh, Hiệp trấn Trần hầu Trần Phúc Hiển… và họ đều in dấu ấn trong các bài thơ đối đáp, xướng hoạ với chủ nhân “Cổ Nguyệt Đường”. Đặc biệt phải kể đến ông Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu, người Tiên Điền, (có người đoán là nhà thơ Nguyễn Du) từng là “người xưa” của Hồ Xuân Hương. Chưa kể Chiêu Hổ (nhưng khó có thể là Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ trung tuỳ bút và Đông Dã học ngôn thi tập) là bạn trai tri ân cùng người Cổ Nguyệt đối đáp, để lại nhiều tứ thơ.

Đường chồng con của nữ sĩ đa tài này thật trắc trở, truân chuyên. Tình duyên hẩm hiu, muộn mằn, đến khi lấy chồng thì “cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm”, hai lần lấy chồng nhưng đều lỡ dở. Hồ Xuân Hương lấy Trần Phúc Hiển đã phải cảnh vợ lẽ và tiếng thơ khóc chồng của người phụ nữ bạc mệnh vang lên văng vẳng “Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi!”. Tiếp đến, bà lại làm lẽ tổng Cóc rồi cũng phải khóc chồng: “Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!”.

Điều chúng tôi muốn nói thêm về cuộc đời của nữ sĩ là ý kiến của Đào Thái Tôn trong bài viết: Phải chăng Hồ Xuân Hƣơng trong Xuân Đƣờng đàm thoại là một kĩ nữ?. Tác giả chỉ đưa ra ý kiến tham khảo chứ không khẳng định Hồ Xuân Hương là một kĩ nữ. Nàng xuất hiện trong Xuân Đƣờng đàm thoại là một tài nữ thông thạo “nào đàn, nào cờ, nào rượu, nào thơ” và cuộc đời riêng chung có thể viết thành một thiên “phong tình tân lục”. Người tài nữ chẳng thể giữ nổi tấm thân trinh bạch trong môi trường mà mình luôn phải làm kẻ mua vui, nên phải làm cái việc “cởi đai ngọc, nâng chén vàng”.

Hơn nữa, 6 Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ