Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hôn nhân là cơ sở pháp lý và xã hội để xác lập quan hệ gia đình – tế bào căn bản của xã hội. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chế định kết hôn đóng vai trò điều chỉnh các điều kiện xác lập quan hệ vợ chồng, trong đó các quy định về cấm kết hôn giữ vị trí then chốt nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, giữ gìn thuần phong mỹ tục và nâng cao chất lượng giống nòi.

Sau gần một thập kỷ thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), sự vận động nhanh chóng của các quan hệ kinh tế - xã hội đã làm nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý và thực tiễn mới. Các hành vi kết hôn giả tạo nhằm trục lợi xuất nhập cảnh, cư trú, cũng như tình trạng hôn nhân cận huyết thống tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn diễn biến phức tạp. Khóa luận tốt nghiệp "Các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam" của tác giả Vũ Tuấn Anh (chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội - 2023, do ThS. Đỗ Hoài Anh hướng dẫn) được thực hiện nhằm phân tích toàn diện cơ sở lý luận, thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành.

Tác giả đã điểm luận các công trình nghiên cứu tiền nhiệm liên quan đến chế định kết hôn và kết hôn trái pháp luật, bao gồm:

  • Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Mừng (2015) về chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Huyền Trang (2012) về kết hôn trái pháp luật;
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Anh (2016) và Nguyễn Ngọc Diệp (2021) về hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý;
  • Bài báo khoa học của Nguyễn Thị Phương (2020) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật;
  • Bài viết của Nguyễn Hữu Minh (2022) trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam về xu hướng biến đổi hôn nhân.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là làm rõ các quy định về cấm kết hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đánh giá giá trị pháp lý và hiệu quả áp dụng trên thực tế, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cấm kết hôn;
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn hiện nay;
  3. Tìm hiểu thực tế triển khai các quy định của pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn;
  4. Tổng hợp, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này.

Đối tượng nghiên cứu trọng tâm là các quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh các trường hợp cấm kết hôn. Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Khuôn khổ pháp luật Việt Nam, trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản liên quan.
  • Thời gian: Khảo cứu tiến trình lập pháp từ thời kỳ Pháp thuộc đến năm 2023; phần thực trạng và thực tiễn thi hành tập trung từ ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực (01/01/2015) đến năm 2023.
  • Nội dung: Các trường hợp cấm kết hôn, chế tài xử lý vi phạm (dân sự, hành chính, hình sự) và thực tiễn thi hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn liền với các luận điểm của Ph. Ăngghen về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Trên nền tảng đó, tác giả sử dụng các phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Tiếp cận hệ thống: Đặt quy định cấm kết hôn trong chỉnh thể thống nhất của chế định kết hôn và toàn bộ hệ thống pháp luật hôn nhân - gia đình, pháp luật dân sự và hình sự Việt Nam.
  • Tiếp cận lịch sử và logic: Khảo sát sự vận động của quy định cấm kết hôn qua từng giai đoạn phát triển lập pháp nhằm chứng minh tính tất yếu khách quan của các quy phạm hiện hành.
  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Khảo cứu tài liệu, thống kê so sánh, phân tích quy phạm pháp luật, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các nguồn văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, báo cáo ngành và các tạp chí khoa học chuyên ngành.

Hệ thống khung pháp lý và văn bản được sử dụng trong công trình bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 36);
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Luật số 52/2014/QH13);
  • Các đạo luật tiền nhiệm: Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000;
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 39, Điều 123);
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Điều 5, Điều 187);
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Điều 182, Điều 184);
  • Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình;
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP;
  • Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội;
  • Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao;
  • Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 23).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cấm kết hôn

Chương 1 tập trung làm sáng tỏ khái niệm, ý nghĩa, các yếu tố chi phối quy định cấm kết hôn và lược sử lập pháp qua các thời kỳ lịch sử.

1. Khái niệm và ý nghĩa: Tác giả dẫn chiếu khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xác định kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Kết hợp với Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, "cấm kết hôn" được xác định là sự can thiệp có tính cưỡng chế của Nhà nước, không cho phép các cá nhân xác lập quan hệ vợ chồng trong những trường hợp luật định. Ý nghĩa của việc quy định cấm kết hôn được phân tích qua 4 khía cạnh:

  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
  • Bảo vệ lợi ích hợp pháp của cộng đồng và toàn xã hội;
  • Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc;
  • Nâng cao chất lượng giống nòi và đẩy lùi tình trạng nghèo đói.

2. Yếu tố tác động: Quy định cấm kết hôn chịu sự chi phối của 4 nhóm yếu tố:

  • Điều kiện kinh tế - xã hội (quan hệ sản xuất, điều kiện giáo dục, chăm sóc y tế);
  • Sự phát triển của khoa học và công nghệ (tri thức y sinh học, di truyền học làm căn cứ loại bỏ các điều cấm lạc hậu như cấm người mắc bệnh phong, hoa liễu đã chữa khỏi);
  • Văn hóa và phong tục tập quán;
  • Tôn giáo và giáo luật.

3. Lược sử quy định cấm kết hôn trong pháp luật Việt Nam: Tác giả hệ thống hóa quá trình phát triển qua 4 giai đoạn lịch sử:

Giai đoạn Văn bản pháp lý chủ yếu Đặc điểm quy định về cấm kết hôn
Thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945) Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883), BLDS Bắc Kỳ (1931), BLDS Trung Kỳ (1936) Phản ánh tính chất phong kiến, gia trưởng, trọng nam khinh nữ. Độ tuổi kết hôn rất trẻ (Nam Kỳ: nam 16, nữ 14; Bắc Kỳ và Trung Kỳ: nam 18, nữ 15, có thể đặc cách giảm tối đa 3 tuổi). Hôn nhân bắt buộc phải có sự đồng ý của cha mẹ/ông nội (Điều 77). Cấm kết hôn cận huyết và thân thích (Điều 74), cấm lấy vợ thứ khi chưa có vợ chính nhưng vẫn công nhận đa thê.
Giai đoạn 1945 - 1954 Sắc lệnh số 97-SL (22/05/1950), Sắc lệnh số 159-SL (17/11/1950) Bước đầu xóa bỏ các hủ tục phong kiến, công nhận quyền tự do dân sự và tự do hôn nhân của công dân.
Giai đoạn 1954 - 1975 - Miền Bắc: Luật HN&GĐ năm 1959
- Miền Nam: Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ Dân luật 1972
- Miền Bắc: Luật HN&GĐ 1959 xóa bỏ chế độ đa thê; cấm người đang có vợ/chồng kết hôn; cấm kết hôn cùng dòng máu trực hệ, thân thích; cấm người mắc bệnh phong, hoa liễu chưa chữa khỏi, người bất lực sinh lý; tuổi kết hôn nam 20, nữ 18.
- Miền Nam: Bộ Dân luật 1972 bãi bỏ đa thê nhưng vẫn duy trì quyền gia trưởng; cấm tái hôn khi đang có hôn thú, cấm cận huyết và thân thích; tuổi kết hôn nam 18, nữ 15.
Giai đoạn 1975 đến nay Luật HN&GĐ các năm 1986, 2000, 2014 - Luật 1986: Bỏ cấm người bất lực sinh lý, bệnh hủi; giữ cấm bệnh tâm thần, hoa liễu; luật hóa phạm vi cấm trong 3 đời.
- Luật 2000: Bỏ cấm bệnh hoa liễu; bổ sung cấm người cùng giới tính, cấm giữa cha mẹ nuôi/từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha dượng/mẹ kế với con riêng.
- Luật 2014: Kế thừa hoàn thiện, bãi bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, điều chỉnh các trường hợp cấm tại Điều 5.

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn

Chương 2 phân tích chi tiết 4 trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và hệ thống chế tài xử lý vi phạm tương ứng.

1. Bốn trường hợp cấm kết hôn:

  • Cấm kết hôn giả tạo (khoản 11 Điều 3): Là hành vi lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Bản chất của hành vi này là vi phạm nguyên tắc tự nguyện kết hôn và khai thác kẽ hở pháp luật để trục lợi.
  • Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn: Điểm c khoản 2 Điều 5 cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Căn cứ khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, người đang có vợ, có chồng gồm 3 trường hợp:
    1. Người đã kết hôn hợp pháp nhưng chưa ly hôn và vợ/chồng chưa chết (hoặc chưa bị tuyên bố là đã chết);
    2. Người xác lập quan hệ vợ chồng thực tế trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn/chết (theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP);
    3. Người kết hôn vi phạm điều kiện nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. (Ngoại lệ lịch sử duy nhất áp dụng theo Thông tư số 60/TATC năm 1978 đối với cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác).
  • Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời:
    • Người cùng dòng máu về trực hệ (khoản 17 Điều 3): Người có quan hệ huyết thống, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.
    • Người có họ trong phạm vi ba đời (khoản 18 Điều 3): Cùng một gốc sinh ra, gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.
    • Căn cứ y sinh học: Việc kết hôn cận huyết làm tăng nguy cơ sinh con mắc ít nhất 9 bệnh/hội chứng di truyền nguy hiểm: bệnh da vảy cá, thiếu men G6PD, suy giáp bẩm sinh, hội chứng Edwards, hội chứng Patau (thừa NST 13), hội chứng Down, bạch tạng, mù màu, tan máu bẩm sinh (Thalassemia) và rối loạn đông máu (Hemophilia).
  • Cấm kết hôn do quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ hôn nhân trước đó:
    • Cấm giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;
    • Cấm giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng (dù quan hệ hôn nhân làm phát sinh các mối quan hệ này đã chấm dứt).

2. Chế tài xử lý vi phạm:

Loại chế tài Căn cứ pháp lý Nội dung và đường lối xử lý
Dân sự / Hôn nhân và Gia đình Luật HN&GĐ 2014 (Điều 10, 11, 12, 13, 16), BLTTDS 2015, TTLT 01/2016 - Chủ thể yêu cầu hủy: Vợ/chồng, cha mẹ, con, người giám hộ; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình/trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; các cá nhân, tổ chức khác có quyền đề nghị.
- Tòa án xử lý theo 3 hướng: (1) Quyết định hủy kết hôn trái pháp luật; (2) Công nhận quan hệ hôn nhân nếu tại thời điểm giải quyết các bên đã đủ điều kiện và cùng yêu cầu; (3) Giải quyết ly hôn nếu đã đủ điều kiện và có yêu cầu ly hôn.
- Hậu quả khi bị hủy: Quan hệ nhân thân chấm dứt hoàn toàn; quan hệ cha mẹ - con giải quyết như khi ly hôn (Điều 81-84); tài sản, nghĩa vụ, hợp đồng giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo Điều 16 (áp dụng BLDS, chứng minh tài sản riêng, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và con).
Xử phạt hành chính Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Điều 59) - Kết hôn giả tạo: Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
- Vi phạm chế độ một vợ, một chồng: Phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.
- Kết hôn giữa người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng - con dâu, mẹ vợ - con rể, cha dượng - con riêng, mẹ kế - con riêng: Phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.
- Kết hôn cận huyết thống (trực hệ, phạm vi 3 đời, cha mẹ nuôi - con nuôi hiện tại): Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng.
Xử lý hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017) - Điều 182 (Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng): Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (làm ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính); phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (làm vợ/chồng/con tự sát hoặc không chấp hành quyết định hủy của Tòa án).
- Điều 184 (Tội loạn luân): Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với hành vi giao cấu với người biết rõ cùng dòng máu về trực hệ, anh chị em ruột.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn và một số kiến nghị, đề xuất

Chương 3 khảo sát thực tế áp dụng quy định cấm kết hôn tại các địa phương, chỉ ra hạn chế, nguyên nhân và đề xuất giải pháp.

1. Kết quả đạt được:

  • Công tác phổ biến pháp luật được triển khai rộng rãi theo các kế hoạch của Bộ Tư pháp (như Quyết định số 378/QĐ-BTP ngày 28/01/2015) và chính quyền các cấp.
  • Việc thực hiện Đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025" (phê duyệt theo Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 14/04/2015 của Thủ tướng Chính phủ) đã mang lại chuyển biến rõ nét.
  • Số liệu thực tế tại các địa phương ghi nhận:
    • Tỉnh Lào Cai: Giai đoạn từ năm 2015 đến hết tháng 6/2017 có 30 người (15 cặp) kết hôn cận huyết thống; đến giai đoạn sau, theo báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh, tình trạng này cơ bản không còn xảy ra.
    • Tỉnh Cao Bằng: Giai đoạn 2021 - 2023 ghi nhận 6 cặp kết hôn cận huyết thống, giảm 20 cặp so với giai đoạn 2015 - 2020.
    • Tỉnh Kon Tum: Năm 2021 ghi nhận 5 cặp kết hôn cận huyết thống (chiếm 0,16% trên tổng số 2.977 cặp kết hôn).

2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

  • Hành vi kết hôn giả tạo có chiều hướng gia tăng và thủ đoạn tinh vi hơn, xuất hiện tại cả đô thị và nông thôn nhằm mục đích trục lợi tài sản, thừa kế hoặc xuất cảnh định cư. Khóa luận dẫn chứng vụ án đường dây kết hôn giả quy mô lớn tại Houston (Texas, Mỹ) do Ashley Yen Nguyen (Duyên, 53 tuổi) cầm đầu bị triệt phá vào tháng 05/2019.
  • Hôn nhân cận huyết thống vẫn tồn tại dai dẳng tại một số vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số do hủ tục, nhận thức pháp luật hạn chế và điều kiện kinh tế khó khăn.

3. Kiến nghị và đề xuất:

  • Hoàn thiện pháp luật: Bổ sung các tiêu chí định lượng và cơ chế phối hợp xác minh để nhận diện chính xác hành vi kết hôn giả tạo; chuẩn hóa quy trình giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản và bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi hủy kết hôn trái pháp luật.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu hộ tịch quốc gia; đẩy mạnh công tác tư vấn, tuyên truyền pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản và các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ) trong việc phát hiện, ngăn chặn vi phạm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ cấu trúc pháp lý của 4 nhóm trường hợp cấm kết hôn quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, phân tích cơ sở y sinh học (9 bệnh di truyền) và cơ sở xã hội của từng điều cấm.
  • Hệ thống hóa đồng bộ 3 cấp độ chế tài xử lý vi phạm quy định cấm kết hôn: chế tài dân sự/hôn nhân gia đình (hủy kết hôn trái pháp luật theo TTLT 01/2016), chế tài hành chính (Nghị định 82/2020/NĐ-CP) và chế tài hình sự (Điều 182, 184 BLHS 2015).
  • Cung cấp số liệu thực chứng về tình hình hôn nhân cận huyết thống tại Lào Cai (15 cặp giai đoạn 2015-6/2017), Cao Bằng (6 cặp giai đoạn 2021-2023, giảm 20 cặp), Kon Tum (5 cặp năm 2021, tỷ lệ 0,16%) và dẫn chứng thực tiễn về đường dây kết hôn giả tạo xuyên quốc gia (vụ án Ashley Yen Nguyen năm 2019).
  • Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự xác định công trình đã bổ sung một nghiên cứu chuyên biệt, cập nhật thực tiễn thi hành sau gần 10 năm áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, so sánh đối chiếu có hệ thống với các đạo luật hôn nhân tiền nhiệm (1959, 1986, 2000).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Khóa luận được thực hiện dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ văn bản quy phạm pháp luật, sách báo, tạp chí khoa học và số liệu báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước, chưa tiến hành điều tra xã hội học độc lập hoặc phát phiếu khảo sát diện rộng.
  • Phạm vi nghiên cứu thực tiễn tập trung chủ yếu vào hai nhóm hành vi nổi cộm là kết hôn giả tạo và hôn nhân cận huyết thống tại một số địa bàn miền núi.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo bao gồm việc khảo sát toàn diện thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp trong các vụ việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm điều cấm trên phạm vi cả nước, đồng thời nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế về xử lý kết hôn giả tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Hôn nhân & Gia đình khi nghiên cứu về chế định kết hôn và kết hôn trái pháp luật.
  • Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp cơ sở, cán bộ Hội Phụ nữ và cơ quan quản lý công tác dân tộc tại các địa phương trong công tác đăng ký kết hôn, tuyên truyền phòng chống hôn nhân cận huyết thống.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống bảng biểu so sánh lịch sử lập pháp qua các thời kỳ (Chương 1) và sơ đồ hóa cơ chế xử lý hủy kết hôn trái pháp luật cùng hệ thống chế tài hành chính, hình sự tương ứng (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định cụ thể những trường hợp nào bị cấm kết hôn?
Khoản 2 Điều 5 quy định 4 nhóm trường hợp cấm kết hôn:

  • Kết hôn giả tạo;
  • Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ/chồng kết hôn với người đang có vợ/chồng;
  • Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
  • Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Người có họ trong phạm vi ba đời được pháp luật xác định như thế nào?
Căn cứ khoản 18 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra, gồm: cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.

3. Pháp luật hiện hành xử phạt hành chính đối với hành vi kết hôn giả tạo và vi phạm chế độ một vợ một chồng ở mức nào?
Theo Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP:

  • Hành vi kết hôn giả tạo để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch, hưởng ưu đãi bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
  • Hành vi đang có vợ/chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác (hoặc chưa có vợ/chồng mà kết hôn với người biết rõ đang có vợ/chồng) bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

4. Khi Tòa án tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật, quan hệ tài sản giữa hai bên được giải quyết ra sao?
Căn cứ khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên. Nếu không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự: tài sản riêng thuộc về người đó (phải chứng minh); không chứng minh được thì coi là tài sản chung và chia theo công sức đóng góp, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và con, trong đó công việc nội trợ được coi như lao động có thu nhập.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Tuấn Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử và thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về các trường hợp cấm kết hôn. Công trình làm rõ bản chất pháp lý của từng điều cấm theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đồng thời gắn liền việc phân tích quy phạm với thực tiễn thi hành và số liệu thực tế tại các địa phương. Các đề xuất hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng được xây dựng có căn cứ, đóng góp tư liệu nghiên cứu hữu ích cho chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình.