Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Thơ trữ tình và cái tôi trữ tình Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về thơ. Nguyễn Xuân Nam cho rằng: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống qua những tâm trạng những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu rõ ràng”.
Các tác giả Nhập môn văn học lại quan niệm: “Thơ là bộc bạch cảm xúc hoặc suy tư”. Xuân Diệu cũng từng cho rằng: “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự vật được phản ánh vào tâm tình”. Còn các tác giả trong nhóm Xuân Thu lại khẳng định: “Thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu, cái hình ảnh bất diệt của cõi vô cùng” vv…Có thể nói, có bao nhiêu người làm thơ, viết về thơ thì có bấy nhiêu quan niệm khác nhau. Mỗi quan niệm đó đều xuất phát trên một số phương diện nhất định của thơ để khái quát, cho nên đều cho ta một ý niệm về thơ.
Chúng ta quan niệm thơ là một hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt. Thơ trữ tình cũng như thơ nói chung luôn bộc lộ cảm xúc một cách mãnh liệt. Không có cảm xúc thì không có thơ. Chính vì thơ gắn với cảm xúc, bộc lộ cảm xúc nên khi được sử dụng ở các phương thức khác như tự sự hay kịch thì cũng không mất đi điều đặc biệt này, mà trái lại càng làm cho các tác phẩm đậm chất thơ, chất trữ tình hơn.
Cảm xúc thơ khác với cảm xúc của văn xuôi. Cảm xúc văn xuôi dù mãnh liệt đến đâu vẫn mang tính khách quan. Còn cảm xúc thơ, nói như Phan Ngọc là “được cảm hóa ngay lập tức, đến mức là của chính tôi”. Người ta đọc thơ, tiếp nhận cảm xúc thơ như là cảm xúc của chính mình.
Người ta lấy thơ ra ngâm, ngẫm nghĩ trong những cảnh ngộ cụ thể, tâm trạng cụ thể của mình. Thơ do đó là tiếng nói tri âm. Người ta tìm đến thơ như tìm đến tri âm. Chẳng thế mà Hoài Thanh đã từng viết: “Thích một bài thơ là thích một con người đồng điệu”.
Vì vậy, có thể hiểu thơ trữ tình là một thể loại thơ ca có đặc trưng là bày tỏ, nói lên tư tưởng tình cảm của tác giả, thông qua đó sẽ phản ánh cuộc sống. Thơ trữ tình không miêu tả quá trình sự kiện, không kể tình tiết đầy đủ câu chuyện, cũng không 11 miêu tả nhân vật, cảnh vật cụ thể, mà mượn cảnh vật để bày tỏ tình cảm (tả cảnh trữ tình). Sáng tác thơ là một nhu cầu tự biểu hiện, một sự thôi thúc từ bên trong, nhiều khi mãnh liệt, dồn dập do sự tác động của đời sống con người gây nên. Sáng tạo nghệ thuật là hoạt động có ý thức của người nghệ sĩ, bị chi phối bởi “cái tôi” nghệ sĩ.
Nhưng cái tôi ở đây là cái tôi nghệ thuật, không phải là cái tôi nhà thơ. Cái tôi trữ tình, trước hết là tính cách của bản thân người mang lời nói. Cái tôi nghệ thuật trong thơ bao gồm nhiều giá trị khác nhau như tài năng, sự sắp xếp các ngôn từ, cấu trúc nghệ thuật…Cái tôi trữ tình có mối quan hệ thống nhất, nhưng không đồng nhất với cái tôi nhà thơ. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình như một hiện tượng nghệ thuật.
Có thể kể đến một loạt các công trình tiêu biểu của Trần Đình Sử như: Thi pháp thơ Tố Hữu (Hà Nội, 1987); Phẩm chất cái tôi trữ tình (TCVH số 1/1983); Cái tôi và hình tượng trữ tình (Báo Văn nghệ số 19/1993).Ngoài ra còn rất nhiều các công trình khác nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ. Hầu hết các bài nghiên cứu đều nhận thấy, cái tôi của nhà thơ luôn luôn có một mối quan hệ trực tiếp với cái tôi trữ tình trong thơ. Từ cách nhìn, cách nghĩ, cách thể hiện những nỗi niềm sâu kín, những tình cảm, thái độ của tác giả trước thế giới khách quan, cái tôi trữ tình của nhà thơ sẽ được bộc lộ. Cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hóa và trở thành một thành tố quan trọng của thế giới nghệ thuật trong tác phẩm.
Như vậy, nhân vật trữ tình trong thơ chính là người bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ thông qua một hệ thống các phương tiện như ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh…để dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác giả. Và thông qua thế giới nhân vật ấy, cái tôi trữ tình của nhà thơ được bộc lộ một cách rõ nét. Sự hiện diện của cái tôi trữ tình có thể sẽ là một tín hiệu quan trọng để nhận biết diện mạo, tư tưởng của nhà thơ, thậm chí của cả một thời kỳ văn học. Trong hành trình sáng tạo của mỗi tác giả, cái tôi trữ tình lại được thể hiện khác nhau.
Điều đó phụ thuộc vào sự chuyển biến trong cá tính sáng tạo của mỗi người nghệ sĩ, cũng như sự tác động, chi phối của hoàn cảnh lịch sử, xã hội, của các yếu tố văn hóa, thời đại…Sự thay đổi và chuyển hóa của các kiểu cái tôi trữ tình sẽ tạo nên sự vận động của thơ. Cái tôi trữ tình thường xuyên xuất hiện dưới dạng chủ thể 12 trữ tình hoặc nhân vật trữ tình. Lê Lưu Oanh trong cuốn Giáo trình Lý luận văn học, NXB Đại học Sư phạm (2008) đã chỉ rõ: “Nhân vật trữ tình chính là chủ thể trữ tình, là người tự phát ngôn, tự miêu tả, tự bộc lộ. Nhân vật trữ tình không có tên tuổi, diện mạo, hành động…nhưng để lại dấu ấn rất rõ qua giọng điệu, cảm xúc, cách suy tư…” [54, 200].
Trong cuốn 150 thuật ngữ Văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn cũng chỉ rõ: “Nhân vật trữ tình là kẻ song sinh “đồng dạng” với nhà thơ tác giả; nó được hình thành từ văn bản của kết cấu trữ tình (một trùm thơ, một tập thơ, một trường ca trữ tình, hoặc toàn bộ sáng tác thơ trữ tình), như một dáng người có đường nét rõ rệt hoặc một vai sống động; như một gương mặt có tính xác định của số phận cá nhân, có đường nét tâm lý của thế giới nội tâm, và đôi khi có cả những đường nét tạo hình…” [4, 252]. Trong quá trình hình thành, cái tôi trữ tình luôn thể hiện những đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, cái tôi trữ tình mang bản chất chủ quan cá nhân. Người làm thơ bao giờ cũng có nhu cầu tự biểu hiện, giãi bày tâm tư, tình cảm riêng của mình.
Hiện thực cuộc sống rất rộng lớn, nhưng quan tâm đến vấn đề gì, nhìn nhận nó như thế nào là do nhà thơ thể hiện dựa trên sự trải nghiệm của cuộc sống cùng với sự thôi thúc cảm hứng sáng tạo nghệ thuật và tài năng của thi nhân. Khi có chất liệu rồi thì đến lượt xây dựng văn bản trữ tình. Sự lựa chọn, cách thể hiện nào trong văn bản trữ tình cũng mang rõ nét cá tính sáng tạo của chủ thể. Do thơ trữ tình in đậm dấu vết cá nhân nên những gì liên quan đến cuộc đời tác giả, từ tiểu sử đến tính cách đều đóng một vai trò nhất định trong sáng tác.
Thứ hai, cái tôi trữ tình mang bản chất xã hội. Trong đời sống xã hội xuất hiện những cá thể người như một đơn vị tồn tại độc lập. Điều đó đã khẳng định vị thế của con người trong cộng đồng. Các Mác đã khẳng định: “Con người là sự tổng hòa mọi mối quan hệ xã hội”, con người có thể độc lập tự chủ, suy nghĩ và hành động theo cách riêng của mình, nhưng con người không bao giờ biệt lập với cộng đồng, với nhân loại.
Làm thơ là để bày tỏ tình cảm, là sự giao lưu với mọi người xung quanh những vấn đề về số phận, về cuộc sống con người. Thơ trữ tình trong lăng 13 kính hẹp nhất của cái nhìn cá thể, lại luôn luôn phản chiếu những vấn đề chung nhất của con người. Nếu như ở phương diện cái tôi trữ tình mang tính chủ quan cá nhân, chúng ta quan tâm đến mối quan hệ giữa cái tôi nhà thơ với cái tôi trữ tình, thì phương diện cái tôi trữ tình mang bản chất xã hội nhân loại, chúng ta chú ý đến mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình với cái ta cộng đồng. Chúng ta thừa nhận thơ trữ tình là vương quốc chủ quan, nhưng cái chủ quan này vẫn hướng về cái ta chung mang tính xã hội, nhân loại.
Ở Việt Nam, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã cho ta thấy rõ được khối sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Trong hoàn cảnh ấy sẽ ít có chỗ cho cái tôi cá nhân tồn tại. Nếu như thơ trữ tình lúc đó không phải là những lời hiệu triệu mọi người xông lên phía trước mà chỉ quay xung quanh những cảm xúc cá nhân khép kín, cô đơn thì thơ sẽ trở nên lạc lõng. Thơ phải thể hiện sự lo toan trước vận mệnh nước nhà, phải đề cao ý thức công dân sẵn sàng hy sinh cái riêng, cái cá nhân cho quyền lợi chung của đất nước.
Thứ ba, cái tôi trữ tình mang bản chất nghệ thuật. Thông qua sự cảm nhận chủ quan về hiện thực, nhà thơ đã tích lũy cho mình một nguồn tư liệu cần thiết. Nguồn tư liệu ấy được xem như là nội dung, chất liệu làm nên tác phẩm. Đến lượt nó, cái tôi trữ tình sẽ sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật đặc thù và tổ chức toàn bộ thế giới nghệ thuật ấy dưới hình thức một văn bản trữ tình.
Rõ ràng, việc đưa hiện thực vào trong tác phẩm thơ trữ tình khác với tác phẩm tự sự hay tác phẩm kịch. Bởi thế cần phải nắm được bản chất nghệ thuật thẩm mỹ của cái tôi trữ tình và sáng tạo theo những quy tắc riêng của thể loại. Tác phẩm trữ tình miêu tả và biểu hiện thế giới chủ quan trong tâm hồn con người dưới mọi cung bậc tình cảm một cách ý nhị và tinh tế. Cái tôi trữ tình mang bản chất chủ quan, do đó thơ trữ tình cũng mang bản chất chủ quan của cái tôi nhà thơ.
Thế giới trữ tình của cái tôi là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ được cấu thành bởi những giá trị văn hóa truyền thống và lịch sử. Như vậy, thế giới trữ tình của cái tôi là một thế giới nghệ thuật giúp người đọc nhận diện cá tính sáng tạo của nhà văn.