Chương 1: QUY TRÌNH ĐÀO TẠO - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài Trong những năm gần đây, rất nhiều nhà khoa học đã thông qua các tạp chí khoa học để lên tiếng luận bàn về thực trạng cũng như đóng góp các ý kiến nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là chất lượng đào tạo tại chức. Đối với Học viện Báo chí và Tuyên truyền chưa có nhiều những nghiên cứu chuyên sâu, sát với điều kiện thực tế của Học viện, đặc biệt về quy trình đào tạo và đảm bảo chất lượng trong quy trình đào tạo tại chức. Quy trình đào tạo tại chức về cơ bản dựa trên quy trình đào tạo chính quy có cải tiến, sửa đổi cho phù hợp với đối tượng theo học của hệ này là những người vừa làm vừa học.
Có thể kể ra những văn bản tạo hành lang pháp lý cho đào tạo tại chức và những bài viết liên quan đến đề tài như sau: - Quy chế tuyển sinh vào hệ đào tạo tại chức trong các trường đại học, cao đẳng ban hành theo Quyết định số: 2241/GD-ĐT ngày 08.1994 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Quy chế thi, kiểm tra học phần, xét cấp chứng chỉ đại học đại cương thi và công nhận tốt nghiệp cho hệ đại học, cao đẳng tại chức ban hành theo Quyết định số 3676/GD - ĐT ngày 09.1994 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Quyết định số: 608 QĐ/PVBC-TT ngày 25.1999 của Giám đốc Phân viện Báo chí và Tuyên truyền ( nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền) về việc ban hành chương trình tổng thể đào tạo cử nhân các ngành học thuộc Phân viện Báo chí và Tuyên truyền. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đề án nâng ngạch giảng viên cao cấp: " Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền" của TS.
Hoàng Đình Cúc, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền tháng 11 năm 2004. - Đề tài cấp Bộ : " Đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở Phân viện Báo chí và Tuyên truyền " do TS. Đoàn Phúc Thanh, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm năm 2004. Các khái niệm cơ bản 1.
Đào tạo Đào tạo là đưa một trình độ hiện có lên một chất lượng mới, cấp bậc mới theo những tiêu chuẩn nhất định bằng một quá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống và được cấp bằng. Đào tạo được coi là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức cho đối tượng đáp ứng được đòi hỏi, nhiệm vụ giáo dục thông qua chương trình và nội dung đào tạo. Đào tạo là quá trình biến đổi một con người từ chỗ chưa có nghề thành một người có trình độ nghề nghiệp ban đầu, làm cơ sở cho họ phát triển thành người lao động có kỹ thuật. Nói đến khái niệm đào tạo, không thể không nhắc đến 2 khái niệm liên quan là ngành và chuyên ngành đào tạo.
Theo " Thuật ngữ các trường đại học các nước xã hội chủ nghĩa". Uỷ ban Quốc gia Liên Xô về giáo dục quốc dân - Matxcơva, 1988 - thì ngành là một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật hoặc văn hoá cho phép người học tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng mang tính hệ thống cần có để thực hiện những chức năng lao động trong khuôn khổ một nghề cụ thể. Ngành phải được ghi trong văn bằng tốt nghiệp đại học, còn chuyên ngành là sự đào sâu kiến thức và kỹ năng của người học trong những phần hẹp hơn của một ngành, hoặc sự thu nhận kiến thức và kỹ năng trong một ngành mới khác. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ giáo dục của Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ ( theo " The facts on File Dictionary of Education" - Y.
Shafritz, 1988) thì ngành ( hay chuyên môn) chính (major) là một tập hợp các kiến thức thuộc về một chuyên ngành chính của một lĩnh vực đào tạo. Khối lượng của mảng kiến thức này được thể hiện ở các quy định xác nhận kiểm chuẩn của tiểu bang hoặc của quốc gia, còn ngành ( hay chuyên môn) phụ ( minor) là tập hợp các kiến thức thuộc về một chuyên ngành ( những không phải là chuyên ngành thứ nhất) của lĩnh vực đào tạo. Khối lượng của mảng kiến thức này được nêu ra tại các quy định kiểm chuẩn. Thuật ngữ giáo dục Việt Nam (theo Công văn số 4831/ĐH ngày 24.1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì ngành đào tạo được xác định thông qua việc phân tích tập hợp các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cung cấp cho người học trong quá trình đào tạo để sử dụng chúng trong lĩnh vực nghề nghiệp xác định, lĩnh vực đó được đặc trưng bởi các đặc điểm của đối tượng, phương tiện lao động và của công nghệ.
Các ngành được xếp vào nhóm ngành căn cứ vào sự liên quan trong nội dung đào tạo. Còn chuyên ngành là sự cụ thể hoá tập hợp kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được định hướng sử dụng trong một phạm vi hạn chế thuộc khung lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của ngành đào tạo. Sự phân hoá về nội dung đào tạo giữa các chuyên ngành của cùng một ngành nằm trong giới hạn 20% kiến thức, kỹ năng của ngành đó. Với những quan niệm như trên, đào tạo cần một lượng thời gian và kinh phí nhất định do vậy phải có kế hoạch, chương trình và nội dung đào tạo và được thực hiện bởi những cơ sở thực hiện chức năng đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo Nghị định số: 90 CP ngày 24.1993 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định cơ cấu khung hệ thống giáo dục quốc dân thì hoạt động giáo dục và đào tạo được thực hiện theo nhiều 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương thức: dài hạn, ngắn hạn, tập trung, không tập trung, chính qui, không chính qui, tự học, từ xa. Theo Thông tư số: 03/TT ngày 20.1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thi hành Nghị định số 90/CP của Chính phủ thì phương thức đào tạo tập trung là quá trình đào tạo diễn ra liên tục, đòi hỏi người học phải tập trung thời gian chủ yếu để học, còn phương thức đào tạo không tập trung là quá trình đào tạo diễn ra không liên tục hoặc kéo dài, cho phép người học dành một phần thời gian để học, một phần thời gian khác để sản xuất, kinh doanh hoặc làm việc khác. Theo điều 3 của Nghị định này thì phương thức đào tạo tập trung, chính quy được quy định thời gian giáo dục đào tạo, độ tuổi hoặc năm đầu vào học, điều kiện học tập để được vào học lớp đầu hoặc năm đầu, văn bằng tốt nghiệp đối với từng bậc học, cấp học. Ví dụ đối với bậc giáo dục đại học.
Quy định về thời gian đào tạo là từ 4 - 6 năm, tuổi đầu đi học là 18 tuổi, điều kiện học tập để được vào học là có bằng tú tài hoặc trung học chuyên nghiệp hoặc trung học nghề. Văn bằng tốt nghiệp là nếu hoàn thành giai đoạn 1 cấp chứng chỉ đại học đại cương, hoàn thành giai đoạn 2 hoặc tốt nghiệp toàn khoá đại học cấp bằng cử nhân (hiện nay theo quy chế mới đã bỏ phần cấp chứng chỉ đại học đại cương). Đối với những trường hợp đặc biệt, có thể quy định thích hợp về độ tuổi và thời gian đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể vận dụng để quy định linh hoạt về thời gian đào tạo trên cơ sở đảm bảo người học phải hoàn thành đầy đủ chương trình tối thiểu của từng cấp học, bậc học. Theo điều 4 của Nghị định 90/CP qui định giáo dục thường xuyên được thực hiện bằng nhiều hình thức ( như không tập trung, không chính qui, tại chức, bổ túc, tự học, từ xa.) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên phù hợp với hoàn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cảnh cụ thể của từng người, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội, khoa học và công nghệ, văn học và nghệ thuật.
Đào tạo tại chức Điều 4 Luật Giáo dục quy định: "Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên". Giáo dục thường xuyên hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế- xã hội, thay đổi công nghệ trong sản xuất và đời sống. Sự thay đổi này đòi hỏi người lao động luôn luôn phải học tập, không ngừng nây cao trình độ tay nghề, cập nhật kiến thức và hơn thế nữa có thể thay đổi nghề nghiệp theo yêu cầu của cá nhân và xã hội. Các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hướng dẫn.
Trong đề tài này chúng ta đồng nhất hai khái niệm tại chức và vừa học vừa làm để đề cập đến cùng một đối tượng trong loại hình đào tạo này. Đào tạo tại chức là hình thức đào tạo dành cho những người không có điều kiện để tham dự thời gian học tập một cách liên tục như các lớp chính quy tập trung, tạo điều kiện đề người học có thời gian vừa học vừa làm. Đây là loại hình đào tạo xuất phát từ chủ trương đổi mới của ngành giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng được nhu cầu học tập của công nhân, công chức nhà nước và người lao động trong các thành phần kinh tế được đi học để nâng cao kiến thức. Đối tượng được đào tạo thuộc loại hình này là người được Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc thủ trưởng cơ quan, đơn vị xác nhận đã có thời gian làm việc hoặc phục vụ tại địa phương hoặc tại cơ quan, đơn vị từ 12 tháng trở lên từ thời điểm tốt nghiệp phổ thông trung học.
Chương trình, nội dung đào tạo. Từ giữa thập niên 90, với xu hướng tăng thêm quyền tự chủ cho các trường đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ trương ban hành khung chương trình đào tạo cho các cấp học đại học, trong đó quy định khối lượng tối thiểu và cơ cấu kiến thức. Căn cứ vào khung chương trình này, các trường được quyền chủ động xây dựng chương trình đào tạo cho mình. Tuy nhiên, cách quản lý chương trình như trên vẫn bị phê phán là quá cứng, hạn chế quyền chủ động của các trường.