CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG 1. Khái niệm và mục đích áp dụng cơ chế FTP 1. Khái niệm cơ chế FTP Cơ chế quản lý vốn tập trung là cơ chế quản lý vốn từ Trung tâm quản lý vốn đặt tại Hội sở chính của ngân hàng.
Các chi nhánh trở thành các đơn vị kinh doanh, thực hiện mua bán vốn với Hội sở chính (thông qua trung tâm vốn). Hội sở chính sẽ mua toàn bộ tài sản Nợ của chi nhánh và bán vốn để chi nhánh sử dụng cho tài sản Có. Từ đó, thu nhập và chi phí của từng chi nhánh được xác định thông qua chênh lệch mua bán vốn với Hội sở chính. Với cơ chế này, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất tập trung về Hội sở chính.
Có thể diễn tả cơ chế này bằng hình vẽ sau: Hình 1.1: Cơ chế quản lý vốn tập trung (Nguồn: Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ) FTP là viết tắt của Fund Transfer Pricing – được dịch là “giá chuyển vốn”. Việc định giá chuyển vốn nội bộ cho từng sản phẩm ngân hàng là trọng tâm của cơ chế 123doc -2- quản lý vốn tập trung. Bởi vậy, cơ chế quản lý vốn tập trung còn được gọi là cơ chế FTP. Nhiều năm nay tại các tổ chức tài chính, cơ chế điều chuyển giá (FTP) cho phép ban quản lý hiểu giá trị của các dịch vụ sản phẩm họ cung cấp.
Nhiều tổ chức với hệ thống FTP sử dụng các kết quả mà căn cứ vào đó sẽ phân tích khách hàng, tổ chức, lợi nhuận sản phẩm (Levey, 2008). FTP đã được định nghĩa như là một phương pháp được sử dụng trong lĩnh vực ngân hàng để đo lường các nguồn quỹ đóng góp trong lợi nhuận tổng thể. Cơ chế điều chuyển vốn (FTP) hầu hết thường được sử dụng trong ngành công nghiệp ngân hàng như là một phương tiện để chỉ ra các lĩnh vực mạnh và yếu trong cơ cấu vốn của tổ chức. FTP cũng có thể được sử dụng để cho biết lợi nhuận của các dòng sản phẩm khác nhau và hiệu quả của đội ngũ nhân viên, cũng như là một phương tiện để so sánh giữa các nhân viên, chi nhánh vv.
Một số khác đã định nghĩa FTP như là một hệ thống đo lường nội bộ và quá trình phân bổ để xác định sự đóng góp trong tổng lợi nhuận cho các quỹ thu nhập, lợi nhuận từ cho vay và các khoản đầu tư ngân hàng. Nó là một thành phần quan trọng của quá trình đo lường lợi nhuận, vì nó phân bổ đóng góp lớn đến lợi nhuận, lãi ròng biên (Kawano, 2005). Một định nghĩa khác của FTP là: một khuôn khổ đo lường nội bộ được thiết kế để đánh giá tác động tài chính của nguồn vốn và sử dụng vốn của một ngân hàng. FTP phân bổ chênh lệch lợi nhuận thuần do sự mất cân bằng của các nguồn vốn và sử dụng vốn của các đơn vị kinh doanh trong ngân hàng.
Kết quả đo lường bằng hệ thống FTP có thể được sử dụng để đánh giá lợi nhuận của các sản phẩm và các mối quan hệ khách hàng, và để phân tán các rủi ro khác nhau được giả định trong quá trình trung gian tài chính (Payant, 2000). Mục đích áp dụng cơ chế FTP Hệ thống điều chuyển vốn FTP cho phép phân tách thu nhập từ lãi. Lãi đóng góp phần lớn vào lợi nhuận của ngân hàng và có thể được thấy trong báo cáo thu nhập của ngân hàng (theo sau là khoản thu từ phí và hoa hồng) và có thể cấu thành 80% thu nhập của ngân hàng. Trong báo cáo thu nhập, thành phần này được phân tách ra thành thu nhập từ lãi và chi phí lãi cho toàn bộ ngân hàng (Kugiel, 2009).
Trước đây, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính được thiết kế để tính toán thu nhập lãi ròng cho toàn bộ tổ chức. Nó không được thiết kế để tính toán thu nhập ròng của một sản phẩm (Coffey, 2001). Và cũng không tính toán thu nhập lãi ròng của chi nhánh cho các mục đích so sánh. Tuy nhiên các chi nhánh trong một ngân hàng hầu như không bao giờ giống nhau về các khoản cho vay và tiền gửi.
Một số chi nhánh tốt ở phía khâu cho vay, trong khi những chi nhánh khác tốt về khâu huy động vốn. Và kết quả phân tích lãi ròng cho thấy rằng tất cả các khoản cho vay và tài sản khác tạo ra thu nhập lãi, trong khi tiền gửi và các khoản nợ khác tạo ra chi phí lãi vay. Sử dụng cách này để đánh giá hiệu quả sản phẩm sẽ cho kết quả trong việc đánh giá các khoản cho vay như tạo ra lợi nhuận và tất cả các khoản tiền gửi như tạo ra chi phí. Tuy nhiên điều này chưa hẳn đúng, vì một khoản tiền cần cho khách hàng vay thông thường là từ tiền gửi của một khách hàng khác.
Mỗi khoản tiền gửi cho ngân hàng là một nguồn của hoạt động cho vay, và mỗi khoản cho vay lại tạo ra các chi phí sử dụng vốn từ nguồn tiền gửi (Kugiel 2009). FTP không chỉ tính toán lợi nhuận của các khoản vay, tiền gửi và các sản phẩm khác. Nó còn đo lường thu nhập lãi của các chi nhánh, dòng sản phẩm và khách hàng. Đo lường lợi nhuận trên mức độ khác nhau cho phép so sánh hiệu quả nội bộ, đánh giá và thẩm định (Kocakulah & Egler, 2006).
Giám sát sự tham gia của các nguồn khác nhau trong việc tạo ra lợi nhuận tổng thể là một trong những yếu tố cần thiết để quản lý một ngân hàng. Nó cho phép đưa ra quyết định hợp lý về phân bổ nguồn lực, kiểm soát chi phí và mức độ lợi nhuận. 123doc -4- Thông tin về sản phẩm và khách hàng tạo cơ sở cho các quyết định giá cả, và chỉ ra rằng những sản phẩm và khách hàng là sẽ mang lại hiệu quả nhất cho các ngân hàng (convery, 2003). Hệ thống FTP bị lỗi thậm chí có thể gây ra phá sản, như là trường hợp của Ngân hàng quốc gia Franklin và nhiều tổ chức tài chính khác ở Mỹ trong thập niên 70 (Deventer, 2002).
Quản lý vốn tập trung nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong công tác điều hành vốn nội bộ, tạo cơ chế kinh doanh có tính nhất quán và bình đẳng chung cho tất các chi nhánh, phân bổ chi phí, thu nhập vốn một cách khách quan, công bằng để đánh giá đúng mức độ đóng góp của các đơn vị kinh doanh vào thu nhập chung của toàn hệ thống trên cơ sở phát huy tính năng động sáng tạo trong khai thác tiềm năng thế mạnh của từng địa bàn. Tập trung quản lý rủi ro về Hội sở, đặc biệt là quản lý các rủi ro trong công tác quản trị vốn như rủi ro lãi suất, rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản. Quản lý tập trung nhằm cân đối một cách hiệu quả nhất cho các mục tiêu sử dụng vốn theo định hướng và kế hoạch kinh doanh, đảm bảo các giới hạn an toàn theo quy định, kiểm soát rủi ro, đạt được các chỉ tiêu tài chính tốt nhất của ngân hàng. Sự cần thiết áp dụng cơ chế quản lý FTP - Tạo môi trường công bằng trong toàn hệ thống Cơ chế quản lý vốn Netting của EIB phát sinh rất nhiều vần đề ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của toàn hệ thống.
Theo như mô hình quản lý tại EIB, tại các chi nhánh nhỏ hay chi nhánh tỉnh thì bộ phận nguồn vốn hầu như không được chú trọng, bộ phận này thuộc một phần nhỏ của phòng kế toán hay phòng dịch vụ khách hàng tùy theo sự đánh giá về năng lực của nhân viên và sự phân công của ban giám đốc chi nhánh. Công tác cân đối vốn tại các chi nhánh khá thủ công, năng lực nhân sự không đồng đều giữa các chi nhánh tỉnh và thành phố lớn làm tăng rủi ro về 123doc -5- nguồn vốn tại các chi nhánh không đảm bảo nhu cầu về nhân lực, dẫn đến sự tăng rủi ro chung cho toàn hệ thống. Bên cạnh việc chịu trách nhiệm trên rủi ro về kỳ hạn và rủi ro về lãi suất. Việc mỗi chi nhánh có riêng từng bảng cân đối kế toán dẫn đến các chi nhánh tỉnh còn chịu thêm các chi phí khác phát sinh khi điều chuyển tiền mặt về Hội sở, hay các phần chênh lệch vay gửi trong thời gian chờ điều chuyển tiền mặt.
Các chi phí này các chi nhánh tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không phải gánh chịu do khoảng cách về địa lý. - Cải tạo các bất cập trong cơ chế điều chuyển vốn hiện tại của Eximbank Theo cơ chế quản lý vốn Netting, tuy bước đầu các mức lãi suất vay gửi đã tách bạch ra các kỳ hạn khác nhau, tuy nhiên việc định giá này lại gây ra một bất cập lớn khác. Có thể thấy việc phân ra các kỳ hạn dài, ngắn khác nhau trong vay gửi vốn giữa chi nhánh và Hội sở theo đúng nguyên tắc sẽ giúp cho các chi nhánh hạn chế được rủi ro lãi suất và rủi ro kỳ hạn. Nhưng thực tế cho thấy việc tách lãi suất vay gửi giữa các kỳ hạn này chưa thực sự làm được việc đó.
Việc phân bổ các chi phí trong công tác điều chuyển vốn của cơ chế cũ dẫn đến sự gia tăng chi phí cho toàn hệ thống, đồng thời không đánh giá đúng mức hiệu quả vốn công bằng cho các chi nhánh, các chi nhánh tỉnh với khó khăn về khoản cách địa lý, càng xa Hội sở chi phí điều chuyển vốn càng tăng. Do đó, để hạn chế tối đa các rủi ro (rủi ro lãi suất, rủi ro kỳ hạn) và giảm thiểu các chi phí (chi phí nhân sự, chi phí điều chuyển vốn …), đồng thời tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng TMCP chính là điều “sống còn” của việc chuyển đổi cơ chế điều chuyển vốn, theo đúng quy luật đào thải của thị trường: hệ thống NHTM nào càng hạn chế nhiều chi phí, hạn chế nhiều rủi ro chất lượng phục vụ càng tốt hệ thống NHTM đó sẽ phát triển và ngược lại. - Xu hướng tất yếu quản lý tài sản nợ – tài sản có theo cơ chế hiện đại – cơ chế quản lý vốn tập trung Cơ chế quản lý vốn tập trung là xu thế tất yếu của mắt xích tập đoàn tài chính và ngân hàng, một mắt xích quan trọng để làm vững mạnh năng lực tài chính của các 123doc -6- NHTM.