CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐIỆN NĂNG VÀ SỤT ÁP NGẮN HẠN 1.1 Tổng quan về chất lượng điện năng (CLĐN) 1.1 Tại sao CLĐN lại là vấn đề được quan tâm Hiện nay, cả các công ty điện lực và người tiêu dùng điện cuối cùng đang ngày càng quan tâm đến CLĐN. Thuật ngữ CLĐN đã trở thành một trong những từ thông dụng phổ biến nhất trong ngành điện kể từ cuối những năm 1980. Nó là một khái niệm chung cho vô số những dao động của hệ thống điện.
Các vấn đề này là không mới, điểm mới là các kỹ sư hiện đang cố gắng giải quyết những vấn đề này bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận một cách hệ thống thay vì xử lý bằng những cách phân tán, riêng lẻ. Có bốn lý do để quan tâm đến vấn đề CLĐN: 1. Các thiết bị ngày nay nhạy cảm hơn với những thay đổi của chất lượng nguồn điện so với những thiết bị trong quá khứ. Phụ tải ngày nay bao gồm nhiều bộ điều khiển dựa trên bộ vi xử lý và các thành phần điện tử công suất nhạy cảm với các dao động trong hệ thống.
Sự phát triển của hệ thống điện đã cho phép phát triển các động cơ kiểm soát tốc độ hiệu suất cao và tụ bù ngang để điều chỉnh hệ số công suất, cải thiện tổn thất điện năng. Điều này dẫn đến tăng mức sóng hài trên hệ thống điện và có nhiều người lo ngại về tác động trong tương lai đối với hệ thống điện. Khách hàng sử dụng điện quan tâm hơn đến chất lượng nguồn điện. Họ nhận thức rõ hơn về các vấn đề như mất điện, sụt áp, sự cố thoáng qua và đòi hỏi nhiều hơn về CLĐN.
Ngày nay, càng nhiều các thiết bị hoặc dây chuyền công nghiệp được đấu nối vào hệ thống điện. Vì vậy, khi xảy ra sự cố của một phần tử có thể gây ra sự cố nghiêm trọng trên toàn hệ thống điện. Lý do cuối cùng mà chúng ta quan tâm đến CLĐN là các ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh tế xã hội. Có những tác động kinh tế đến các công ty điện lực và khách hàng của họ.
Chất lượng điện năng có thể tác động trực tiếp đến nhiều khách hàng là phụ tải công nghiệp. Gần đây người ta rất chú trọng đến việc phát triển ngành công nghiệp ngày càng tăng tính tự động hóa và xuất hiện thêm nhiều thiết bị hiện đại hơn. Điều này có nghĩa là thiết bị điện tử, tiết kiệm năng lượng hiện nay nhạy cảm hơn nhiều với sự thay đổi điện áp điện áp cung cấp so với các thiết bị điện cơ trước đây. Do đó, khách hàng phụ tải công nghiệp hiện nay nhận thức sâu sắc hơn về những dao động nhỏ trong hệ thống điện.
Vì vậy, sẽ xảy tổn thất kinh tế rất lớn do ảnh hưởng của những dao động nhỏ trong hệ thống.2 Định nghĩa về CLĐN Định nghĩa về CLĐN thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các quốc gia. Do yêu cầu của xã hội và sự phát triển của đất nước, CLĐN có thể chỉ được định nghĩa là độ tin cậy hoặc nhiều tiêu chuẩn khác. Ngày nay, CLĐN thường được định nghĩa bởi: − Đối với đơn vị cung cấp điện: CLĐN là độ tin cậy của nguồn cung cấp, phụ thuộc vào sự cố, dao động của phụ tải và ảnh hưởng của sét đối với hệ thống. − Đối với nhà sản xuất thiết bị điện: CLĐN là đặc tính của nguồn cung cấp để thiết bị hoạt động tốt.
− Đối với người tiêu dùng: Bất kỳ sự thay đổi nào của dòng điện, điện áp hoặc tần số khiến các thiết bị hoạt động không đúng cách hoặc bị hỏng. Trong hệ thống điện, CLĐN chủ yếu được sử dụng để đảm bảo chất lượng năng lượng điện cung cấp cho người tiêu dùng, do đó CLĐN có thể được định nghĩa là: Bất kỳ sự cố điện nào biểu hiện bằng sai lệch điện áp, dòng điện hoặc tần số dẫn đến hỏng hóc hoặc vận hành sai thiết bị của khách hàng. CLĐN tốt có thể được thể hiện bởi điện áp cung cấp ổn định nằm trong phạm vi quy định, tần số xoay chiều ổn định gần với giá trị danh định và dạng sóng đường cong điện áp trơn (dạng sóng sin). Nói chung, sẽ rất đúng khi coi CLĐN là sự tương thích giữa nguồn cấp và phụ tải đầu nối vào.
Thuật ngữ này được sử dụng để mô tả công suất điện truyền tải điện và khả năng hoạt động bình thường của phụ tải. Nếu không có nguồn điện thích hợp, thiết bị điện (hoặc phụ tải) có thể hoạt động sai, hư hỏng hoặc hoàn toàn không hoạt động. Có nhiều tác nhân dẫn đến giảm chất lượng nguồn điện và nhiều lí do để giải thích cho các tác nhân đó.3 CLĐN – Chất lượng điện áp? Khi CLĐN được xem xét, chất lượng của điện áp đang được giải quyết trong hầu hết các trường hợp. Về mặt kỹ thuật, công suất tỷ lệ với tích của điện áp và dòng điện.
Sẽ rất khó để xác định chất lượng của công suất vì phụ thuộc vào dòng điện mà dòng điện thay đổi theo mức tiêu thụ của phụ tải. Vì vậy, hệ thống cung cấp điện chỉ có thể kiểm soát chất lượng của điện áp. Do đó, các tiêu chuẩn trong lĩnh vực chất lượng điện được dành để duy trì điện áp cung cấp trong các giới hạn nhất định.4 Quy trình và thông số đánh giá CLĐN Các vấn đề về chất lượng điện bao gồm một loạt các hiện tượng khác nhau, như đã mô tả trước đây. Mỗi hiện tượng này có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau và có thể sử dụng các giải pháp khác nhau để nâng cao CLĐN và hiệu suất của thiết bị.
Tuy nhiên, cần có một phương pháp đồng bộ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng này, đặc biệt nếu phương pháp tiếp cận trực tiếp đến sự đáp ứng giữa hệ thống cung cấp điện và khách hàng.1 đưa ra một phương pháp đồng bộ thường được yêu cầu trong điều tra chất lượng điện năng, cùng với những vấn đề chính cần được giải quyết ở mỗi bước.1 Các bước cơ bản trong đánh giá chất lượng điện năng Phương pháp đồng bộ cũng phải xem xét việc đánh giá đến vấn đề chất lượng điện hiện có hoặc vấn đề phát sinh từ những thiết kế mới hoặc từ các thay đổi đối với hệ thống điện. Hệ thống đo đếm sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá CLĐN. Khi thực hiện các phép đo, điều quan trọng là phải ghi lại các tác động của sự thay đổi CLĐN đồng thời có thể tìm ra được nguyên nhân dẫn đến các tác động đó. Các giải pháp cần được đánh giá theo quan điểm toàn hệ thống, và cả tính kinh tế và các yêu cầu kỹ thuật cần phải được xem xét.
Các giải pháp khả thi có thể được áp dụng ở tất cả các cấp của hệ thống điện từ đơn vị cung cấp điện đến thiết bị sử dụng cuối. Các giải pháp không khả thi về mặt kỹ thuật sẽ bị loại bỏ và các giải pháp khả thi sẽ được lựa chọn dựa trên cơ sở so sánh về lợi ich kinh tế. Giải pháp tối ưu sẽ phụ thuộc vào loại vấn đề, số lượng người dùng bị ảnh hưởng và tính khả thi. Vai trò của mô phỏng và phép đo để đánh giá các vấn đề về CLĐN được mô tả riêng cho từng loại kịch bản.
Các giải pháp hiện có và tính kinh tế của các giải pháp này cũng được đề cập trong các chương của luận văn. Chất lượng điện năng có thể được mô tả như một tập hợp các giá trị của các thông số, chẳng hạn như: − Sóng hài − Mất điện ngắn hạn (<1 phút) − Mất điện thời gian dài (> 1 phút) − Dạng sóng điện áp thấp hoặc cao − Điện áp thoáng qua, quá điện áp (đóng/cắt thiết bị, sét) − Nhấp nháy − Mất cân bằng điện áp 14 − Biên độ điện áp cao hoặc thấp trong thời gian dài 1.5 Quy định về CLĐN ở Việt Nam Tại Việt Nam, CLĐN của các chỉ số lưới điện phân phối được quy định trong [5] và [6], hạn chế sự biến đổi tần số, điện áp, hạn chế sóng hài, mất cân bằng ba pha và nhấp nháy điện áp.2 Sụt áp ngắn hạn (SANH) 1.1 Định nghĩa về SANH SANH (thuật ngữ IEC) được [7] định nghĩa là sự giảm mức điện áp hiệu dụng xuống 10% - 90% (1% - 90% đối với EN 50160 - Tiêu chuẩn về đặc tính điện áp trong hệ thống phân phối công cộng) ở mức danh định, tại tần số danh định trong khoảng thời gian từ ½ chu kỳ (đối với tần số 50Hz là 0.02 giây) đến một phút. Ngoài ra, SANH được phân loại là hiện tượng biến đổi điện áp trong thời gian ngắn, là một trong những vấn đề về chất lượng điện năng. Khoảng thời gian sụt giảm điện áp được chia thành ba loại: thoáng qua (½ chu kỳ đến 30 chu kỳ), tức thời (30 chu kỳ đến 3 giây) và tạm thời (3 giây đến 1 phút).
Các khoảng thời gian này liên quan với thời gian hoạt động của thiết bị bảo vệ cũng như phân chia thời lượng do các tổ chức kỹ thuật quốc tế khuyến nghị.2, điện áp sụt 75% xuống 0,25 p.u diễn ra trong 0,55 giây, sau đó nó có thể được phân loại là thoáng qua (27,5 chu kỳ).2 Ví dụ về SANH Đôi khi, người ta nhầm lẫn khi phân biệt giữa hiện tượng sụt giảm điện áp dài hạn, quá độ điện áp và SANH. Sụt giảm điện áp dài hạn là sự giảm điện áp trong thời gian dài hơn nhiều, vài phút hoặc nhiều giờ trong khi quá độ điện áp được định nghĩa là sự tăng đột ngột trong thời gian ngắn của năng lượng điện và là kết quả của sự giải phóng đột ngột năng lượng đã được lưu trữ trước đó hoặc được tạo ra bởi các phương tiện khác, chẳng hạn như phụ tải lớn hoặc sét.2 Nguyên nhân của SANH SANH thường do sự cố (ngắn mạch) trên hệ thống điện. Ví dụ một khách hàng được cung cấp từ bộ cấp nguồn được cung cấp bởi một xuất tuyến trên sơ đồ thể hiện trong Hình 1. Nếu ngắn mạch trên cùng một ngăn lộ đầu ra phía 15kV của trạm biến áp 110kV, khách hàng sẽ gặp sự cố điện áp trong thời gian 15 ngắn mạch, sau đó là gián đoạn khi máy cắt mở ra để loại bỏ sự cố ngắn mạch.
Nếu ngắn mạch có tính chất tạm thời, hoạt động tự đóng lại sẽ thành công và sự cố gián đoạn sẽ chỉ là tạm thời. Thông thường sẽ cần khoảng 5 hoặc 6 chu kỳ để cầu dao hoạt động, trong thời gian đó xảy ra hiện tượng sụt áp.