CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KÊ KHAI THUẾ VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ KÊ KHAI THUẾ HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý kê khai thuế 1. Khái niệm quản lý kê khai thuế Kê khai thuế là nghĩa vụ của tất cả Người nộp thuế (tổ chức và cá nhân) có hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo đó việc kê khai phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, NNT phải khai chính xác, trung thực đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chúng từ, tài liệu quy định trong HSKT với cơ quan quản lý thuế.
Theo Giáo trình Quản lý thuế của Học viện Tài chính thì “Kê khai thuế là một nghĩa vụ bắt buộc theo quy định của pháp luật thuế, Kê khai thuế là việc NNT lập hoặc điền vào mẫu các tờ khai thuế hoặc phụ lục tờ khai các thông tin để xác định nghĩa vụ thuế của NNT” [Trang 35]. Trong hệ thống quản lý thuế, công tác quản lý kê khai và kế toán thuế (KK&KTT) luôn có một vị trí hết sức quan trọng. Có thể coi đây là khâu đầu tiên của quá trình quản lý thuế, cũng có thể coi là khâu cốt lõi của quá trình qụản lý thuế, mà cũng có thể coi là khâu thể hiện kết quả của công tác quản lý thuế, bởi lẽ chức năng này vừa cung cấp toàn bộ thông tin cho các chức năng quản lý thuế tiếp theo thực hiện nhiệm vụ, vừa tiếp nhận các kết quả xử lý của các chức năng quản lý thuế đó để theo dõi việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT. Trong hệ thống tổ chức quản lý thuế theo mô hình chức năng, đây thường được gọi là chức năng “lõi”, các thông tin được xử lý qua công tác này về NNT được gọi là thông tin “lõi”.
Như vậy, có thể nói đây là chức năng đầu tiên mà ngành Thuế luôn phải coi trọng và thực hiện tốt thì mói có thể thực hiện tốt các công tác quản lý thuế tiếp theo như quản lý thu nợ và kiểm tra, thanh tra thuế. Quản lý kê khai thuế có nhiệm vụ xác định cho đúng và đủ đối tượng nào phải tự kê khai thuế, kê khai các loại thuế nào và kê khai khi nào, nghĩa vụ thuế phát sinh, đã nộp của NNT như thế nào. Các đối tượng còn lại thuộc cơ chế CQT Luan van 5 tính thuế, ấn định thuế và thông báo thuế và được CQT lập danh sách để quản lý theo cơ chế riêng. Như vậy, quản lý kê khai thuế là hoạt động của CQT ghi nhận, phản ánh theo dõi tình hình nộp HSKT của NNT và phân tích đánh giá tính chính xác, trung thực, đúng pháp luật của HSKT.
Mục tiêu quản lý kê khai thuế 1. Quản lý đầy đủ đối tượng kê khai thuế Mục tiêu tổng thể, bao trùm và quyết định đến mọi hoạt động của ngành Thuế là cần phải nắm bắt, quản lý đầy đủ đối tượng, không bỏ sót nguồn thu, bởi nếu không quản lý tốt đối tượng CQT không thể kiểm soát diễn biến hoạt động sản xuất kinh doanh của NNT, không thể lường trước được những hậu quả sẽ xảy ra trong quá trình quản lý thuế. Để làm tốt được nội dung công việc này, trước hết CQT cần xác định được các trường hợp phải nộp HSKT, quản lý danh sách các loại HSKT phải nộp hàng tháng, hàng quý, hàng năm của từng NNT, thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc phải nộp HSKT tương ứng cho từng loại HSKT; các trường hợp kê khai đặc biệt khác (kê khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế, kê khai đối với trường hợp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng,. Các công việc quản lý đối tượng cụ thể theo bảng mô tả công việc dưới đây: Bảng 1.1: Nội dung công việc quản lý kê khai NNT Trường hợp Nội dung công việc NNT mới thành lập, Xác định loại thuế, loại HSKT phải nộp, kỳ tính thuế, khai được cấp MST mới thuế và ngày bắt đầu phải nộp HSKT của từng NNT để cập nhật Danh sách theo dõi NNT phải nộp HSKT.
NNT thay đổi thông - Cập nhật ngày kết thúc phải nộp HSKT đối với HSKT tin đăng ký thuế không còn phải nộp cho CQT vào Danh sách theo dõi NNT nhưng không làm phải nộp HSKT. thay đổi CQT quản lý - Cập nhật bổ sung nghĩa vụ kê khai mới đối với các thông trực tiếp tin thay đổi của NNT vào Danh sách theo dõi NNT phải nộp HSKT. NNT chuyển địa - Đối với CQT nơi NNT chuyển đi: điểm và thay đổi + Xác định tình hình kê khai thuế của NNT đến thời điểm CQT quản lý trực chuyển đi. Luan van 6 Trường hợp Nội dung công việc tiếp + Căn cứ ngày chuyển đi của NNT, kết thúc nghĩa vụ kê khai đối với toàn bộ HSKT của NNT.
- Đối với CQT nơi NNT chuyển đến: Căn cứ thông tin của NNT chuyển đến cập nhật nghĩa vụ kê khai thuế vào Danh sách theo dõi NNT phải nộp HSKT. Đồng thời, căn cứ Thông báo về tình trạng kê khai thuế của NNT chuyển CQT quản lý do CQT nơi NNT chuyển đi gửi đến (nếu có) để tiếp tục theo dõi, giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc nộp HSKT của NNT. NNT tạm ngừng kinh - Cập nhật ngày ngừng hoạt động vào Danh sách theo dõi doanh có thời hạn NNT phải nộp HSKT để tạm dừng việc theo dõi, đôn đốc NNT nộp HSKT. - Hết thời gian tạm ngừng kinh doanh, tiếp tục việc theo dõi, đôn đốc NNT nộp HSKT.
NNT giải thể, phá - Cập nhật ngày chấm dứt hoạt động sau khi Bộ phận đăng sản, chấm dứt hoạt ký thuế đóng MST trên hệ thống đăng ký thuế vào Danh động sách theo dõi NNT phải nộp HSKT để kết thúc việc theo dõi, đôn đốc NNT nộp HSKT. NNT không hoạt - Cập nhật ngày chấm dứt hoạt động vào Danh sách theo động tại địa chỉ đã dõi NNT phải nộp HSKT khi nhận được thông báo của các đăng ký nhưng chưa bộ phận liên quan xác định đã bỏ trốn, mất tích để kết thúc làm thủ tục chấm dứt việc theo dõi, đôn đốc NNT nộp HSKT. hiệu lực MST - Khôi phục lại Danh sách theo dõi NNT phải nộp HSKT trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày NNT được thông báo khôi phục MST, vẫn đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh việc xác định các trường hợp phải nộp HSKT còn phải quản lý NNT thay đổi kỳ kê khai thuế theo từng lần phát sinh sang khai thuế theo tháng hoặc quý, quản lý NNT khai thuế qua tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế.
Khi CQT quản lý đầy đủ đối tượng kê khai thuế thì mới có đầy đủ thông tin về nghĩa vụ kê khai nộp thuế của NNT, là căn cứ để kiểm tra, đôn đốc kê khai hàng Luan van 7 tháng, hàng quý, năm, căn cứ để xử lý vi phạm hành chính trong trường hợp không kê khai hoặc kê khai chậm so với thời gian quy định. Trường hợp không thực hiện tốt việc quản lý kê khai thuế, CQT sẽ xác định được thiếu và không chính xác nghĩa vụ thuế và gây thất thu thuế, không đôn đốc nhắc nhở NNT kịp thời thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế, làm cho việc thực thi pháp luật không nghiêm, khiến NNT chây ỳ trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, để làm tốt công tác quản lý NNT, CQT phải thường xuyên rà soát địa bàn quản lý để xác định những đối tượng thực tế có hoạt động sản xuất kinh doanh phải đưa vào diện quản lý thuế. Mặt khác, trong quá trình quản lý thuế phải có sự phối hợp, liên hệ thường xuyên với các cơ quan chức năng khác có liên quan như: Cơ quan cấp phép cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ đầu tư kinh doanh và phát triển hạ tầng khu công nghiệp, chính quyền địa phương, cơ quan thống kê.
để nắm bắt tổng số đối tượng phải quản lý theo tùng địa bàn hoạt động, theo tùng loại hình doanh nghiệp, qua đó phân loại số đối tượng có hoạt động thường xuyên, số đối tượng đang tạm dừng hoạt động, số đối tượng đã giải thể, phá sản,. Các mục tiêu của công tác quản lý đối tượng là: - Thực hiện nghiêm chỉnh các luật thuế, đảm bảo nộp đúng, nộp đủ và nộp kịp thời tiền thuế vào ngân sách nhà nước. - Cải tiến thủ tục quản lý thuế, phân công, phân nhiệm rõ ràng, chuẩn hoá dần công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế, nâng cao hiệu quả chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ thuế. Nắm bắt chính xác tình trạng nộp HSKT Việc nắm bắt chính xác tình trạng nộp HSKT (gồm HSKT chính thức hoặc thay thế, điều chỉnh/bổ sung) không chỉ giúp hạch toán nghĩa vụ thuế được chính xác mà còn quản lý tốt NNT, xác định doanh nghiệp có hoạt động hay không, qua đó đánh giá tính tuân thủ trong khai thuế của NNT.
Công việc này cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục và là nội dung trong công tác quản lý đối tượng nhằm tránh tình trạng NNT bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh mang theo hóa đơn hay hoạt động kinh doanh bất hợp pháp gây tổn hại cho NSNN và khó khăn cho công Luan van 8 tác quản lý thuế. Qua đó, CQT có cơ sở để phân loại đối tượng, đề ra giải pháp quản lý được phù hợp. Các loại HSKT cần quản lý gồm: + HSKT chính thức: Đối với mỗi loại thuế, NNT tự kê khai theo mẫu biểu quy định và nộp cho CQT theo thời hạn quy định đối với từng loại HSKT. + HSKT thay thế: Trong thời hạn nộp HSKT, NNT đã nộp hồ sơ cho CQT sau đó phát hiện HSKT đã nộp có sai sót nhầm lẫn ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ thuế thì NNT được nộp HSKT thay thế cho hồ sơ đã nộp.
+ HSKT điều chỉnh/bổ sung: Sau khi hết thời hạn nộp HSKT theo quy định, NNT phát hiện HSKT đã nộp cho CQT có sai, sót thì được khai bổ sung HSKT. HSKT bổ sung có thể nộp vào bất cứ ngày nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp HSKT của kỳ tiếp theo, nhưng phải trước khi CQT công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở NNT.