phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể: C h ư ơ n g 1 : N ợ xẩu và quản ìỷ nợ xấu của ngân hàng thương mại C h ư ơ n g 2: Thực trạng nợ xẩu và công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam —Chi nhánh Ba đình C h ư ơ n g 3: Gải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ xẩu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Ba đình. 3 CHƯONG1 NỌ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NHŨNG VẤN ĐÈ C ơ BẢN VỀ NỌ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về nợ xấu 1.1 Theo Ngân hàng Trung u’O’ng Liên minh Châu Âu Nợ xấu trong các NHTM gồm: - Những khoản nợ không thể thu hồi được, đó là: + Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đê đòi bồi thường từ nợ. + Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. + Những khoản nợ mà ngân hàng không the liên lạc được với người mắc nợ hoặc không the tìm được người mắc nợ.
+ Những khoản nợ mà khách nợ đã chấm dút hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ đế trả nợ. - Nợ có thế thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng đế trả và lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thế thu hồi được đầy đủ như : + Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù cho khoản nợ, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyến đế thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng 4 + Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu được gia hạn nợ nhưng không đền bù được trong thời gian thoả thuận + Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không được chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không có khả năng trả nợ Ngân hàng đầy đủ + Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhung phần bồi hoàn ít hơn dư nợ.2 Theo định nghĩa Nọ’ xấu của Phòng thống kê - Liên họp quốc Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê - Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vôn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. v ề cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ.
Đây được coi là định nghĩa của Chuẩn mực kể toán quốc tế (IAS) đang được áp dụng phổ biến trên thế giới.3 Theo định nghĩa của Việt Nam Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam về việc ban hành “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng d ự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng”, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, việc xác định, phân loại nợ xấu của các TCTD đã bước đầu theo sát với thông lệ quốc tế (phân loại căn cứ vào 5 thực trạng khách hàng chứ không chỉ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản cấp tín dụng). Nợ xấu được định nghĩa như sau: “N ợ xâu là nhũng khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuân), nhóm 4 (nợ nghỉ ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Nợ xấu theo định nghĩa của Việt Nam cũng được xác định dựa theo hai yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Qua những định nghĩa về nợ xấu của các tổ chức trên ta có thể hiểu khái quát nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến gây thiệt hại cho ngân hàng.2 Nguyên nhân dẫn đến nọ’ xấu 1.1 Nguyên nhân khách quan Đây là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tình trạng nợ xấu tại ngân hàng, tuy nhiên lỗi chính không nằm về phía ngân hàng. - Do các củ sốc về kinh tế không thể lường trước Mỗi nền kinh tế luôn có những đặc điểm riêng của mình và chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên ngoài như chính trị, xã hội và các yếu tố nội tại.
Khi các yếu tố này gặp các cú sốc bất lợi như thiên tai, khủng hoảng chính trị hay sự sụp đổ của một vài yếu tố kinh tế thì nền kinh tế sẽ bị tác động trực tiếp dẫn đến khủng hoàng. Khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, mặc nhiên tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp hay thu nhập của các hộ tiêu dùng cũng sẽ khủng hoảng. Vì vậv, khả năng hoàn trả các món nợ đã vay ngân hàng cũng sẽ giảm sút; dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng. - Do sự mất ổn định và thiếu đồng bộ, hợp lỷ của pháp luật Một sự thay đôi trong pháp luật sẽ gây ra tác động không nhỏ tói hoạt động của doanh nghiệp.
Ví dụ như một sự thay đổi về chính sách thuế có thể tác động làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm hoặc làm thua lỗ một dự 6 án. Bên cạnh đó, phải kê đến đó là sự chồng chéo của các văn bản pháp lý. Sự chông chéo này không những gây ra sự khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kinh doanh mà còn gây ra sự khó khăn cho ngân hàng trong việc xử lý các khoản nợ xấu. - Các nguyên nhân xuất phát từ vấn đề đạo đức khách hàng Với việc cung cấp các báo cáo tài chính và các văn bản pháp lý của doanh nghiệp có sự sai khác so với thực tế, vì vậy làm cho các nhận định của cán bộ tín dụng đối với tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không chính xác.
Quá trình này bắt đầu từ giai đoạn thẩm định hồ sơ vay vốn cho tới quá trình quản lý khoản vay, cán bộ tín dụng sẽ không phát hiện những bất thường hay là những dấu hiệu chứng tỏ khả năng không hoàn trả được món vay của doanh nghiệp. Không chỉ vậy, có một số khách hàng tuy có tiền nhưng tỏ ra chây ỳ, nhằm chiếm dụng hoặc chiếm đoạt vốn.2 Nguyên nhân chủ quan - Sự yếu kém trong công tác xây dựng và thực thỉ chiến lược quản ỉỷ nợ xấu Với tình hình thực tiễn của nền kinh tế và đặc điểm của mỗi ngân hàng thì chiến lược quản lý nợ xấu phải được xây dựng sao cho phù họp. Tuy nhiên, do sự yếu kém trong công tác này, các sai lầm ví dụ như trong việc đề ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng quá cao khi chưa đồng bộ với 1 cơ chế kiểm soát, 1 quy trình tín dụng chặt chẽ sẽ dẫn đến sự gia tăng của nợ xấu. Bên cạnh đó là là sự mất họp lý của cơ cấu cho vay, sự thiếu chính xác trong nhận định xu hướng phát triên hay suy thoái của các ngành, các khách hàng mục tiêu dẫn đến sự tập trung tín dụng sai lầm.
Bên cạnh việc xây dụng chiến lược thì việc thực thi nó cũng quan trọng không kém. Một chiến lược đúng đắn tuy nhiên không được thực thi một cách có hiệu quả. Điều này có thế xuất phát từ cơ chế kiếm soát nội bộ yếu kém 7 nhung cũng có thế là do sự thiếu ý thức, trình độ của nhà quản lý, các nhân viên tín dụng. - Sự yếu kém về trình độ và đạo đức của nhân viên tín dụng Các nhân viên tín dụng là những người trực tiếp thực thi việc cho vay cùng như quản lý các món vay.
v ề mặt lợi ích, khi các nhân viên này với đạo đức kém và bộ phận kiêm soát không phát hiện kịp thời sẽ lợi dụng quyền hạn đê có thê cho vay các khoản vay với rủi ro. Họ có thê thực hiện việc này thông qua việc làm sai lệch cách nhìn về báo cáo tài chính và triển vọng của khách hàng. Cũng như là sự sai lệch về giá trị thực của tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, không phải tất cả các lỗi này đều xuất phát từ vấn đề đạo đức mà có thể xuất phát từ vấn đề trình độ.3 Phân loai no’ xấu Các tiêu chí để phân loại nợ xấu được quy định cụ thể tại Điều 6 Ouyết định 493/2005/Q Đ -NH NN như sau: - Nọ' nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuấn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 ở trên; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3.
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao nhất. Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của nhóm. - Nọ’ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2; các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4. 8 Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn so với các khoản nợ của nhóm 3.
Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ.