CHƯƠNG I:CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LƯƠNG THỰC DỰ TRỮ QUỐC GIA 1.Khái niệm về dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nước) là dự trữ của một đất nước - một quốc gia mà bất cứ một quốc gia nào cũng phải có. Tuy nhiên, dự trữ quốc gia là gì? cũng có những khái niệm khác nhau: (http://vanban.vn) Theo từ điển bách khoa Việt Nam (www.vn), “Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước do nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian nhất định. Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước”. Giáo trình kinh tế thương mại, trường Đại học Kinh tế quốc dân (www.dhktqd) thì cho rằng: Dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt của hàng hoá.
Dự trữ này do Nhà nước quy định bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân khi có thiên tai, chiến tranh và có sự biến động của thị trường. Theo Điều 1 của Pháp lệnh Dự trữ quốc gia, “Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước nhằm chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, bức thiết khác của Nhà nước”. Như vậy, dự trữ quốc gia trước hết là nguồn dự trữ chiến lược của quốc gia do nhà nước quản lý, nắm giữ nhằm thực hiện những nhiệm vụ có tính chiến lược đảm bảo cho hoạt động của nền kinh tế - xã hội được bình thường, ổn định và phát triển; tính chiến lược này được thể hiện trên các mặt cơ bản sau: Một là, đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; đây là nhiệm vụ đầu tiên đáp ứng cả phòng và chống, đảm bảo cho sản xuất và đời sống diễn ra bình thường, không bị gián đoạn. 5 Hai là, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước.
Nhiệm vụ giữ gìn an ninh, quốc phòng của đất nước được đặt song song với phát triển kinh tế - xã hội mang tính chiến lược lâu dài mà dự trữ quốc gia phải đảm nhiệm; đảm bảo cơ sở vật chất góp phần phòng ngừa và ngăn chặn bạo loạn, hành vi phá hoại, diễn biến hòa bình, chiến tranh tôn giáo, sắc tộc.v… và nạn nhân gây chiến từ bên ngoài. Ba là, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong điều kiện của nền kinh tế hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng theo đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và hội nhập ngày càng sâu rộng vào sân chơi WTO; trong điều kiện nền kinh tế quốc tế có những biến động bất thường.v… thì vấn đề tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô của dự trữ quốc gia càng có ý nghĩa quan trọng và phải được tăng cường. Trích " Pháp lệnh dự trữ quốc gia" 1.
Sự cần thiết của Dự Trữ Quốc Gia Thời đại ngày nay khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển, toàn cầu hoá và hội nhập nền kinh tế quốc tế ngày càng được đẩy mạnh. Song trong tình hình đó mỗi quốc gia vẫn phải đối mặt với những thách thức to lớn do thiên tai (bão lụt, dịch bệnh, hoả hoạn…) gây ra. Bên cạnh đó sự xung đột chính trị giữa các quốc gia, sự biến động và cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những nguy cơ đe doạ đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy để phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những tổn hại do thiên tai hoặc những bất ổn do chính trị và kinh tế gây ra đòi hỏi mỗi quốc gia phải hình thành nên các quỹ dự trữ của quốc gia mình, từ đó hình thành Cục DT ở mỗi nước trong đó có Việt Nam.
Thứ nhất:DTQG được hình thành trước hết do yêu cầu thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và tương lai mà nếu không có DT thì không thể giải quyết được. Vì vậy DT đóng vai trò rất quan trọng nhằm đáp ứng các nhu cầu mà các loại dự trữ khác trong nền kinh tế quốc dân không thể đáp ứng được, đặc biệt trong những tình huống đột biến do thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn hoặc chiến tranh xảy ra… 6 Thật vậy, lịch sử đã chứng minh trong quá trình phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, ở mỗi thời kì, mỗi chế độ, con người luôn phải đối mặt với những thách thức và khó khăn do thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, cháy rừng…xảy ra. Đặc biệt đối với Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, do đó thiên tai, bão lụt thường xuyên xảy ra. Hiện nay tình hình thời tiết ngày càng phức tạp, thiên tai, bão lụt ngày càng nhiều, phạm vi ngày càng mở rộng trên cả ba miền Bắc – Trung – Nam, với mức độ ngày càng gay gắt, khó đo lường và dự báo.
Theo thống kê của Cục Thống kê và Trung tâm dự báo kí tượng thuỷ văn, trung bình mỗi năm nước ta phải hứng chịu từ 8 đến 13 cơn bão, trong đó có nhiều cơn bão gây thiệt hại nặng nề về người và của. Tất cả những điều đó là nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định về sản xuất và đời sống. Vì vậy đòi hỏi Nhà Nước phải có quỹ Cục DT và quỹ này phải đủ mạnh để có thể bù đắp được những thiệt hại, ổn định đời sống nhân dân. Thứ hai: Chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự chủ trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, lấy thu bù chi và có lãi.
Do đó để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp không ngừng cạnh tranh, kể cả cạnh tranh không công bằng. Điều đó khiến cho nền kinh tế bất ổn, gây rối loạn thị trường. Mặt khác tự do cạnh tranh Nhà Nước không thể ép buộc các doanh nghiệp gánh vác trách nhiệm dự trữ cho toàn xã hội, để ứng phó với những trường hợp bất ổn của thị trường và nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp vì lợi ích của doanh nghiệp mình họ tiến hành đầu cơ để lợi dụng những lúc thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, hoả hoạn…để ép giá nhằm thu lợi nhuận.
Vì vậy để khắc phục hậu quả do thiên tai, bão lụt và ổn định thị trường và mọi mặt đời sống nhân dân Nhà nước phải hình thành nên quỹ Cục DT để thực hiện chức năng quản lý toàn xã hội. Thứ ba: Tình hình chính trị thế giới luôn diễn biến phức tạp, chiến tranh Cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, đặc biệt là tình hình khủng bố quốc tế luôn diễn ra với mức độ ngày càng phức tạp. Điều đó luôn là hiểm họa đối với xã hội loài người. 7 Lịch sử Việt Nam cho thấy từ ngày dựng nước đến nay, nhân dân Việt Nam đã phải trải qua hàng trăm cuộc chiến chống kẻ thù xâm lược để bảo vệ đất nước.
Để có được nước Việt Nam độc lập ngày hôm nay, Cục DT đã đóng góp một phần quan trọng. Ngày nay, nguy cơ chiến tranh vẫn luôn tiềm ẩn, diễn biến hoà bình ngày càng phức tạp, xung đột khu vực và chiến tranh diễn ra ngày càng gay gắt với mức độ ngày càng tinh vi hơn. Điều đó đặt ra cho mỗi nước phải có và ngày càng tăng cường hơn nữa hoạt động Cục DT để đảm bảo vấn đề an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc tổ quốc trước mọi tình huống. Cuối cùng Cục DT cần thiết vì đó là công cụ để Nhà Nước điều hành vĩ mô nền kinh tế, xử lý những tình huống bất trắc xảy ra, đặc biệt trong điều kiện nước ta đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Cục DT sẽ là công cụ có hiệu quả để khắc phục những khó khăn trong quá trình hội nhập, khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế nước ta vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa đã đặt ra. Cục DT sẽ giúp Đảng và Nhà Nước ta thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đặt ra đồng thời thực hiện được các chính sách xã hội cũng như nhiệm vụ quốc tế cao cả. Chính từ những nguyên nhân trên, Cục DT hình thành là tất yếu khách quan và hết sức cần thiết của mỗi nước. Đặc điểm Dự Trữ Quốc Gia a) Dự Trữ Quốc Gia là một dạng dự trữ đặc biệt DTQG là dự trữ của một nước, do Nhà Nước nắm giữ và quản lý.
Theo pháp lệnh DTQG , DTQG là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà Nước nhằm chủ động đáp ứng những nhu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của nhà Nước. 8 Công tác quản lý dự trữ mặt hàng lương thực là các hoạt động xây dựng và thực hiện kế hoạch, dự toán ngân sách DTQG , xây dựng hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật để quản lý DTQG , điều hành nhập, xuất, bảo quản, bảo vệ DTQG. DTQG khác các loại dự trữ khác trong nền kinh tế, DTQG do Nhà Nước quản lý ở tầm vĩ mô để điều tiết toàn bộ nền kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. DTQG được tích luỹ dần từng năm theo các kế hoạch của Nhà Nước.
Việc nhập xuất các mặt hàng DTQG phải tuân theo các kế hoạch do Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt. Việc quản lý hàng DTQG có sự tham gia của nhiều Bộ, Ngành có liên quan. Hàng năm Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư căn cứ theo tình hình dự báo và thực tiễn hoạt động DTQG tổng hợp để Chính phủ trình Quốc hội quyết định tổng mức dự trữ hàng năm cũng như việc bổ sung ngân sách cho quỹ dự trữ. Quỹ DTQG là khoản tích luỹ từ ngân sách Nhà Nước, do Nhà Nước thống nhất quản lý và sử dụng theo quy định của Pháp lệnh DTQG các văn bản pháp luật có liên quan.