Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC 1. Một số vấn đề lý luận chung về nền kinh tế tri thức 1. Khái niệm nền kinh tế tri thức - Quá trình hình thành nền kinh tế tri thức Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học,… từ những năm 1990 đến nay, nền kinh tế thế giới đang có những biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động, làm xuất hiện nhiều thuật ngữ để giải thích cho nền kinh tế mới này. Năm 1990, tổ chức nghiên cứu của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm “kinh tế tri thức” (Knowledge economy) để xác định tính chất của loại hình kinh tế mới này.
Năm 1996, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) gọi nền kinh tế mới này là “kinh tế lấy tri thức làm cơ sở” (knowledge based economy). Năm 1998, Ngân hàng Thế giới trong “báo cáo phát triển thế giới” đã đặt tên cho nền kinh tế mới này là “tri thức cho phát triển” (Knowledge for development). Như vậy, có thể có nhiều tên gọi khác nhau nhưng cho đến nay nhân loại đang bước vào một thời đại kinh tế mới - nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức là một khái niệm mới dùng để nói về nền kinh tế đạt trình độ phát triển cao, là nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, chứ không phải nói tới một hình thái kinh tế - xã hội mới.
Như vậy, xét về mặt lịch sử phát triển lực lượng sản xuất của xã hội loài người từ thấp đến cao trên cơ sở phân phối tài nguyên, người ta có thể chia ra làm ba thời kỳ tương ứng với ba nền kinh tế đó là: “kinh tế lao động chân tay (nền kinh tế nông nghiệp); kinh tế tài nguyên (nên kinh tế công nghiệp); và kinh tế tri thức (nền kinh tế tri thức)” [38, tr. 8 z - Bản chất của nền kinh tế tri thức Hiện nay đang là thời kỳ chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, nền văn minh của nhân loại chuyển từ công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Nghĩa là nền kinh tế tri thức đang dần dần hình thành, nó chưa phải là giai đoạn phát triển cao, thậm chí tên gọi của nó cũng chưa được thống nhất, cũng chính vì vậy mà việc xác định đúng bản chất của nền kinh tế tri thức là công việc hết sức khó khăn. Bản thân định nghĩa “nền kinh tế tri thức” hiện nay trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất.
Do đó, bản chất của nền kinh tế tri thức phụ thuộc rất nhiều vào các cách tiếp cận khác nhau. Nếu theo cách tiếp cận hẹp, xuất phát từ việc hiểu “tri thức” với nghĩa hẹp, nghĩa là đồng nhất tri thức với khoa học và công nghệ, theo đó nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế được cấu thành bởi các ngành công nghệ cao. Hẹp hơn nữa, là nhấn mạnh vào vai trò to lớn và độc nhất của công nghệ thông tin. Hiểu theo cách này người sử dụng một số thuật ngữ để đặt tên cho nền kinh tế mới này như: “kinh tế thông tin”, “kinh tế mạng”, “kinh tế số hóa”… Cũng theo cách tiếp cận hẹp, người ta có thể tách biệt nền kinh tế quốc dân thành hai bộ phận: khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ.
Khu vực kinh tế tri thức, theo phân loại của OECD, là các ngành dựa trên tri thức. Hai khu vực này hoạt động với những cơ chế, quy luật đặc thù và mang lại kết quả khác nhau. Nếu theo cách tiếp cận rộng, xuất phát từ việc hiểu “tri thức” theo nghĩa rộng, nghĩa là mọi hiểu biết của con người đối với bản thân và thế giới. Tổ chức OECD đã phân ra 4 loại tri thức quan trọng đó là: biết cái gì, biết tại sao, biết như thế nào và biết ai.
Với cách hiểu như vậy thì kinh tế tri thức được xem xét dưới hai góc độ sau: Xét dưới góc độ đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế: Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2000 đã đưa ra định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo 9 z ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế [19, tr. Đây là quan niệm được nhiều người đồng tình, bởi lẽ nó đã phản ánh được những nét cơ bản của một nến kinh tế với mô hình tổ chức lao động hiện đại lấy việc sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất để tạo ra của cải, tăng trưởng kinh tế và nâng cao cuộc sống của con người. Tuy nhiên với quan điểm này, họ đã nhấn mạnh vai trò của tri thức đến sự phát triển kinh tế, nhưng đã bỏ qua cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế tri thức. Xét dưới góc độ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế tương ứng với trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất.
Trong đó lực lượng sản xuất bao gồm hai bộ phận chính: công cụ sản xuất và con người. Theo cách hiểu này thì nền kinh tế tri thức chỉ là một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất chứ không phải tương ứng với một hình thái kinh tế - xã hội mới. Đây là quan niệm chủ yếu chú trọng đến cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tri thức. Nếu theo cách tiếp cận bao trùm: Với cách tiếp cận này, thì nền kinh tế tri thức có nhiều khía cạnh bao gồm cả hai quan niệm đầu.
Nền kinh tế tri thức theo quan điểm này được hiểu là một loại môi trường kinh tế - xã hội. Nhấn mạnh nhiều đến việc tạo dựng một môi trường kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự sản sinh, phổ biến và sử dụng tri thức. Ở trong môi trường kinh tế đó, tri thức vừa là cơ sở, vừa là nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bền vững vì tri thức là nguồn tài nguyên vô tận, khác hẳn với các nền kinh tế trước đây chủ yếu dựa vào sức lao động cơ bắp trong nền kinh tế nông nghiệp và nguồn tài nguyên có hạn trong nền kinh tế nông nghiệp. Như vậy cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức.
Mỗi cách hiểu đều có điểm mạnh và điểm yếu trong việc giải thích về nền kinh tế tri thức và bản chất của nó. Có thể nói thuật ngữ “nền kinh tế tri thức” có thể diễn giải với độ tùy biến cao, tùy thuộc vào dự định ban đầu. 10 z Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài thì nền kinh tế tri thức chủ yếu được hiểu theo cách thứ ba (theo cách tiếp cận bao trùm). Như vậy có thể hiểu: “bản chất của nền kinh tế tri thức là một môi trường kinh tế - xã hội mà trong môi trường đó luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nảy sinh, phổ biến và sử dụng tri thức, tạo điều kiện để chuyển biến tri thức thành sức mạnh sản xuất đạt tới trình độ cao và tri thức trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất”.
Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức Hiện nay, nền kinh tế tri thức đang dần hình thành ở một số nước trên thế giới đặc biệt là những nước phát triển. Chính vì vậy mà các đặc điểm của nền kinh tế tri thức vẫn đang dần được hình thành và tiếp tục phát triển, nghĩa là những đặc điểm của nền kinh tế tri thức chưa thực sự bộc lộ hết. Xuất phát từ bản chất của nền kinh tế tri thức vừa được phân tích ở trên, có thể kể ra một số đặc trưng cơ bản như sau: Một là, tri thức khoa học và công nghệ (đặc biệt là công nghệ cao cùng với lao động sáng tạo, kỹ năng cao đang dần trở thành LLSX trực tiếp tạo ra lợi thế quyết định tới sự phát triển kinh tế bền vững. Trong nền kinh tế nông nghiệp đặc trưng bởi lao động thủ công, dựa vào sức lao động cơ bắp là chính, còn tư liệu lao động cơ khí là dấu hiệu đặc trưng cho nền kinh tế công nghiệp, đến nền kinh tế tri thức thì tri thức khoa học và công nghệ cao là đặc trưng tiêu biểu nhất.
Trong nền kinh tế này cùng với lao động kỹ thuật cao, tri thức khoa học và công nghệ trở thành yếu tố quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất. Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Công nghệ thông tin “trở thành phương tiện giải phòng các tiềm năng sáng tạo và tri thức tiềm ẩn trong mỗi người, thành công cụ khuyếch đại sức mạnh của não, giống như công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp khuyếch đại sức mạnh của cơ bắp” [26, tr. Các nguồn tài nguyên như lao động, tư bản hữu hình… chiếm vị trí quan trọng trong phát triển 11 z kinh tế ở nền kinh tế công nghiệp thì nay đang dần được thay thế bằng nguồn tài nguyên tri thức.
Với một nền kinh tế mà chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên tri thức thì giá trị của gia tăng chủ yếu được tạo ra do tri thức. Cơ cấu kinh tế bắt đầu thay đổi, nhiều ngành kinh tế có sử dụng nhiều tri thức ra đời và ngày càng phát triển. Sản phẩm và dịch vụ làm ra ở những ngành này có khả năng cải tạo và hiện đại hóa các lĩnh vực khác trong nền kinh tế và có đóng góp rất lớn cho phát triển kinh tế. Với khoa học và công nghệ cao cho phép khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên và các nguồn lực xã hội đang dần khan hiếm, nhưng lại có chi phí không tốn kém.
Đây là động lực cho sự phát triển kinh tế bền vững. Nhìn từ góc độ tổng quát thì nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao có xu hướng sử dụng ngày càng tăng trong các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Xu thế của sự phát triển sẽ ngày càng lan rộng ra tất cả các ngành và xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trong nông nghiệp tăng nhanh dịch vụ, đặc biệt là những ngành sử dụng nhiều hàm lượng tri thức.