MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngân sách nhà nước (NSNN) là công cụ tài chính quan trọng không thể thiếu để Nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Xã là cấp chính quyền nhỏ nhất, gắn bó mật thiết đến người dân và là đại diện của Nhà nước giải quyết trực tiếp mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân. Ngân sách xã (NSX) là phương tiện vật chất đảm bảo sự hoạt động bình thường của chính quyền cấp xã, đồng thời là công cụ tài chính giúp chính quyền cấp xã thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao.
Cùng với sự phát triển về kinh tế và đời sống của người dân ngày càng cao việc chi NSX cũng không ngừng tăng lên. Vì vậy đòi hỏi công tác quản lý NSX nói chung và quản lý chi NSX nói riêng phải có sự điều chỉnh để phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và đáp ứng được yêu cầu hoạt động của chính quyền nhà nước cấp xã. Huyện Thanh Sơn có 22 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là, 62.357,44 ha chiếm 7,15% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Phú Thọ. Là một huyện vùng cao, có vị trí địa lý, địa hình phức tạp, dân cư phân tán sống ở những khu vực hẻo lánh, xa trung tâm, hiện nay Thanh Sơn đang gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế xã hội.
Xuất phát điểm thấp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp, hạ tầng cơ sở, vật chất kỹ thuật còn thiếu và yếu kém, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao. Qua khảo sát cho thấy việc quản lý chi ngân sách cấp xã đã đáp ứng được cơ bản các yêu cầu theo đúng quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật; Tuy nhiên, công tác quản lý chi NSX trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế trong khâu tổ chức lập, phân bổ dự toán, chấp hành và quyết toán chi NSX. Nhiều nội dung chi tiêu ngân sách còn sai chế độ, lăng phí trong chi tiêu hội nghị, chi tiếp khách, trong mua sắm và sử dụng tài sản công. Trình độ quản lý chi NS của các xã hạn chế dẫn đến nhiều sai sót trong quản lý; mặt khác do còn mang nặng tư tưởng bao cấp của cơ chế "xin - cho" nên chưa thực sự chủ động trong quản lý chi tiêu tài chính, chưa phát huy được hiệu quả Luan van 2 khi sử dụng NSX.
Để góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách trên địa bàn huyệnThanh Sơn đặc biệt là tại các xã,thị trấn,tôi chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cấp xã trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ’’ để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu - Luận văn tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận - thực tiễn về ngân sách, công tác quản lý ngân sách nói chung và công tác quản lý chi NSX nói riêng. - Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSX trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 - 2018. - Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSX phù hợp với điều kiện của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2025.
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chi ngân sách tręn địa bàn các xã của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. - Những giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cấp xã trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là: Công tác quản lý chi NSX trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyệnThanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. - Phạm vi thời gian: Các số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài được thu thập trong các năm từ năm 2016- 2018. Số liệu sơ cấp được khảo sát năm 2019. Ý nghĩa của nghiên cứu Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSX trên địa bàn huyệnThanh Sơn và đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSX trên địa bàn nghiên cứu.
Kết quả nghiên Luan van 3 cứu là tài liệu tham khảo cho các độc giả quan tâm đến công tác quản lý chi NSNN nói chung và chi NSX nói riêng. Luan van 4 Chýơng 1 CÕ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Ngân sách nhà nýớc 1.1 Các khái niệm (i) Khái niệm ngân sách nhà nýớc [Sử Đình Thành, 2009] Thuật ngữ ngân sách theo tiếng Anh là “Budget” có nghĩa là cái túi đựng tiền. Thuật ngữ “Budget” xuất phát bởi từ cổ “Bougette” của Pháp.
Từ thế kỷ 17, người Anh sử dụng thuật ngữ “Budget” để chỉ ngân sách hay túi tiền của nhà vua. NSNN là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện và tồn tại của nó gắn liền với sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ và sự xuất hiện của tổ chức nhà nýớc. Thể chế NSNN khởi đầu từ Anh vào cuối thế kỷ 17, tiếp đến xuất hiện ở Mỹ và Pháp, sau đó mô hình thể chế NSNN lan rộng đến các quốc gia khác.
Sự ra đời của thể chế NSNN là kết quả tiến trình đấu tranh của giai cấp tý sản đối với chế độ nhà nýớc phong kiến. Giai cấp tý sản đòi hỏi Nhà nýớc phong kiến phải bỏ đi chế độ thuế khóa và chi tiêu công một cách tùy tiện, theo ý chí riêng của nhà nýớc phong kiến (nhà vua), thay vào đó là một thể chế đảm bảo cho hoạt động tài chính công một cách minh bạch, có giới hạn và mang tính pháp lý, chế độ thuế khóa phải do Quốc hội của tổ chức nhà nýớc quyết định, các khoản chi tiêu công phải đặt trong sự giám sát của dân chúng và có sự tách bạch chi tiêu của xã hội với tiêu dùng cá nhân của nhà vua (nãm 1688, ở nýớc Anh đã ban hành Luật dân quyền quy định không cho phép nhà vua đặt ra bất kỳ khoản thu nào để chi tiêu, trừ khi được Quốc hội cho phép). Khi tổ chức nhà nýớc muốn hoạt động và tồn tại, cần phải có nguồn lực tài chính để chi tiêu. Tuy nhiên, NSNN phải được thực hiện theo luật do Quốc hội của một tổ chức nhà nýớc quyết định.
Luan van 5 Tùy theo đặc điểm KT - XH cũng nhý truyền thống lịch sử khác nhau ở mỗi quốc gia, cách diễn đạt quan niệm NSNN có thể không hoàn toàn giống nhau, song bản chất của NSNN luôn được hiểu là quỹ tiền tệ tập trung chủ yếu của Nhà nýớc nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu để tồn tại và phát triển. Tại Việt Nam, theo Điều 4 của Luật NSNN [Luật số 83/2015/QH13] được Quốc hội nýớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành 25/6/2015 đã giải thích thuật ngữ NSNN nhý sau: “NSNN là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nýớc được dự toán và thực hiện trong một khoản thời gian nhất định do cõ quan nhà nýớc có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nýớc”. (ii) Khái niệm thu ngân sách nhà nýớc Để có kinh phí cho mọi hoạt động của mình, Nhà nýớc đã đặt ra các khoản thu (thuế) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình. Thực chất, thu NSNN là việc Nhà nýớc dùng quyền lực của mình để tập trung nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa măn các nhu cầu của Nhà nýớc.
Ở Việt Nam, đứng về phýơng diện pháp lý thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nýớc huy động vào ngân sách để thỏa măn nhu cầu chi tiêu của Nhà nýớc. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nýớc và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nýớc huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nýớc nhằm thỏa măn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nýớc huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối týợng nộp. (iii) Khái niệm chi ngân sách nhà nýớc Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy quản lý nhà nýớc và thực hiện các chức năng KT - XH mà Nhà nýớc đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định.
Chi NSNN là sự chi phối giữa hai quá trình Luan van 6 phân phối và sử dụng quỹ NSNN. Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các loại quỹ trýớc khi đưa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trýớc khi đưa vào sử dụng. Luật NSNN đã xác định cụ thể chi NSNN bao gồm: các khoản chi phát triển KT - XH, đảm bảo quốc phòng - an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nýớc, chi trả nợ của Nhà nýớc, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nýớc [Dýơng Thị Bình Minh công, 2005] NSNN là một nội dung quan trọng của hệ thống tài chính công.
Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính công, cụ thể: + Quan hệ tài chính giữa Nhà nýớc và công dân. + Quan hệ tài chính giữa Nhà nýớc và doanh nghiệp: mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nýớc cấp phát, hỗ trợ vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phýơng thức nhất định để tiến hành SXKD và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dýới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa NSNN với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào NSNN theo luật định. + Quan hệ tài chính giữa Nhà nýớc với tổ chức xã hội.
+ Quan hệ tài chính giữa Nhà nýớc với quốc tế.