phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung 5 luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về bảo đảm tiền vay của NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng công tác bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Hà Thành. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Hà Thành. 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về tín dụng và hoạt động cho vay Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay.
Trong quan hệ này, ngƣời cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho ngƣời đi vay trong một thời gian nhất định. Ngƣời đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm theo một khoản chi phí nhất định. Quan hệ giữa hai bên (cho vay – đi vay) đƣợc ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả… Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định cụ thể về hoạt động cấp tín dụng và cho vay của TCTD: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó, cho vay là một nghiệp vụ thuộc tín dụng ngân hàng và đƣợc định nghĩa: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Theo khoản 1, điều 2, Thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng thì: “Cho 7 vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, đƣợc thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Trong danh mục các tài sản của NHTM, cho vay là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất và là khoản mục đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên, do cho vay có tính lỏng kém hơn so với các loại tài sản khác, xác suất vỡ nợ của các khoản cho vay cũng cao hơn nên rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có xu hƣớng tập trung vào danh mục các khoản cho vay.
Vì vậy, khi cho vay các ngân hàng đều phải tuân thủ các nguyên tắc cho vay.2 Nguyên tắc cho vay Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng đƣợc thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với các quy định của pháp luật. Khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng.3 Các hình thức cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Phân loại theo thời gian Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn đến 12 tháng, đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 8 năm, đƣợc sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,. Cho vay dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thể lên đến 20 năm.
Đây là hình thức cho vay vốn để đáp ứng nhu cầu dài hạn nhƣ: xây dựng nhà ở, các thiết bị, phƣơng tiện vận tải có quy mô, xây dựng các xí nghiệp mới,.2 Phân loại theo mục đích cho vay Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các thành phân kinh tế hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ. Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nhƣ: phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, lao động, nhiên liệu,. Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cho vay các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác.
Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng,.phục vụ cho nhu cầu sản xuất sinh hoạt trong một khu vực dân cƣ.3 Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các hình thức bảo đảm nhƣ: thế chấp, cầm cố, cho vay bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, là nguồn bổ sung cho nguồn thu nợ còn chƣa thật sự chắc chắn. Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay không có tài 9 sản mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Việc cho vay này do chính các tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động lựa chọn trên cơ sở các phƣơng án vay vốn hiệu quả, khả thi và độ tín nhiệm, uy tín trong quan hệ tín dụng của khách hàng.4 Phân loại theo xuất xứ tín dụng Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu và ngƣời vay trực tiếp trả nợ cho Ngân hàng.
Cho vay gián tiếp: Ngân hàng cấp vốn cho ngƣời có nhu cầu thông qua các tổ chức vay vốn, các doanh nghiệp cung ứng và bao tiêu sản phẩm cho nông dân trên cơ sở các thoả thuận trƣớc giữa ba bên.5 Phân loại theo phương thức cho vay - Cho vay thấu chi: Cho vay thấu chi là việc ngân hàng cho phép khách hàng chi vƣợt số tiền có trên tài khoản của khách hàng. Ngân hàng thu lãi vay trên số tiền khách hàng chi vƣợt. - Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tƣơng đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thƣờng xuyên, không có điều kiện để đƣợc cấp hạn mức thấu chi. - Cho vay theo hạn mức: là hình thức cấp tín dụng của NHTM mà theo đó, khách hàng chỉ cần làm 01 bộ hồ sơ để vay trong 01 kì nhất định với mức tín dụng mà khách hàng và ngân hàng đã thoả thuận, theo đó khách hàng vay chỉ giới hạn dƣ nợ, không giới hạn doanh số.
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần khác nhau trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Hình thức này thƣờng đƣợc áp dụng đối với các khoản cấp tín dụng trung và dài hạn. BẢO ĐẢM TIỀN VAY An toàn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là một nội dung cực kỳ quan trọng, cần phải đƣợc quan tâm trong hoạt động kinh doanh của bất cứ ngân hàng nào và bản thân nó cũng quyết định tới khả năng thu nhập lâu bền, thậm chí tới sự tồn tại của mỗi một ngân hàng. Để hạn chế các rủi ro có thể xảy ra và nâng cao chất lƣợng các hoạt động tín dụng thì các ngân hàng cần đề cao hơn nữa công tác bảo đảm tiền vay.
Khái niệm và các hình thức bảo đảm tiền vay “Bảo đảm tín dụng là việc các ngân hàng thiết lập cơ sở pháp lý và kinh tế, tạo điều kiện cho ngân hàng thỏa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định” (Tô Ngọc Hƣng, 2014). Nhƣ vậy, việc thiết lập các biện pháp bảo đảm tiền vay chính là thiết lập các cơ sở pháp lý để có thêm một nguồn thu nhập thứ hai trong trƣờng hợp khách hàng trả nợ không đúng theo quy định. Tuy nhiên, để có thể sử dụng đƣợc nguồn thu nợ thứ hai trong những trƣờng hợp cần thiết đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện các hình thức bảo đảm một cách đầy đủ theo quy định của pháp luật và đánh giá các điều kiện bảo đảm phù hợp với từng hình thức bảo đảm. Có nhiều biện pháp để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ của cá nhân hoặc tổ chức vay vốn.
Theo Điều 292 Bộ luật dân sự năm 2015, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký quỹ, ký cƣợc, bảo lãnh, tín chấp, bảo lƣu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản. Dựa trên cơ sở tài sản đảm bảo thì có thể chia các biện pháp bảo đảm thành 02 hình thức chính là: Bảo đảm có tài sản và Bảo đảm không có tài sản bảo đảm. Cụ thể: 11 - Bảo đảm bằng tài sản: là hình thức bảo đảm tín dụng trong đó ngân hàng đóng vai trò là chủ nợ đƣợc thừa hƣởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách hàng vay hoặc của bên có nghĩa vụ nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong trƣờng hợp khách hàng vay không có khả năng trả nợ hoặc cố tình không trả nợ. Biện pháp bảo đảm bằng tài sản thể hiện bằng hình thức nhƣ: thế chấp, cầm cố, ký quỹ, ký cƣợc, đặt cọc, bảo lƣu quyền sở hữu.