CHƯƠNG 1: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN VE CƠ CHE THUC HIỆN DIEU UOC QUOC TE VE QUYEN CON NGƯỜI 1. KHAI NIEM CO CHE THUC HIEN DIEU UGC QUOC TE VE QUYEN CON NGUOI 1. Điều ước quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc tế Quyền con người được ghi nhận khá sớm trong pháp luật của các quốc gia. Có nhiều học giả cho rằng quyền con người đã bat đầu được đề cập trong một sé đạo luật thời kỳ cổ đại như Bộ luật Urukagina (khoảng năm 2350 trước công nguyên).
Bộ luật Urnammu (khoảng năm 2050 trước công nguyên), Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 trước công nguyên) [8, tr. Sang đến các thời kỳ phát triển sau này, quyền con người tiếp tục được ghi nhận một cách rõ ràng trong hiến pháp và pháp luật của các quốc gia như Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Mặc dù được ghi nhận khá sớm trong pháp luật quốc gia, quyền con người chỉ thực sự được tiếp cận dưới góc độ pháp luật quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX cùng với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ, cải thiện điều kiện sống cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang trên thế giới. Cùng với sự ra đời của một s6 TCQT như Tổ chức Chữ thập đỏ quốc tế năm 1863, Hội quốc liên và ILO năm 1919, quyền con người cảng trở thành một van dé mang tinh quốc tế rộng lớn.
Lời nói dau trong Điều lệ của 1LO đã khang định: “Nền hòa bình lâu dài trên toàn thế giới chỉ có thể được thiết lập nếu nó dựa trên công bằng xã hội” [94]. Tại Điều 23 Hiến chương của Hội quốc liên, các quốc gia thành viên tuyên bố: “Sẽ nỗ lực để bảo đảm, duy trì sự công bằng và các điều kiện nhân đạo về lao động cho nam giới, phụ nữ và trẻ em.” cũng như “bảo đảm sự đối xử như vậy với những người bản xứ tại lãnh thé thuộc quyền quản lý của quốc gia” [81]. Khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, cộng đồng quốc tế và các lực lượng tién bộ đã cùng nhau ký kết Hiến chương thành lập nên LHQ với mục dich “thực hiện sự hợp tác quốc tế. trong việc khuyến khích phát triển và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [3, tr.
Ngoài việc xác định rõ mục dich bảo vệ và phát triển quyền con người, Hiến chương LHQ còn xem xét các quyền và tự do cơ bản của con người theo nhiều góc độ và tương ứng với từng góc độ đó có các cơ chế khác nhau để đảm bảo cho việc phát triển và bảo vệ quyền con người ở từng quốc gia. Ngay sau đó, năm 1948, Đại hội đồng LHQ đã thông qua lãi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền mở ra một kỷ nguyên mới cho những cam kết và hành động quốc tế trong việc đảm bảo các quyền tự do cơ bản của con người. Đó là lần đầu tiên, quyền con người được chính thức ghi nhận bằng các quy định của pháp luật quốc tế. Kể từ khi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền được thông qua cho đến nay đã có nhiều DUQT vẻ quyền con người được ký kết.
Da số các DUQT này được ký kết trong khuôn khổ các TCQT như LHQ, các TCQT chuyên môn thuộc hệ thống LHQ hoặc các TCQT khu vực. Dựa vào nội dung các quyền con người được đề cập, có thể chia các ĐUQT này làm hai nhóm: - Nhóm DUQT về quyền con người co bản: Day là những ĐUQT có nội dung dé cập đến các quyền cơ bản như quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của con người. Các ĐUQT này có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó xác định cụ thể những chuẩn mực pháp lý quốc tế về các quyền cơ bản của con người. Trong số các ĐUQT thuộc nhóm này có hai công ước quốc tế được ký kết năm 1966 là Công ước về quyền dân sự, chính trị và Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Hai công ước được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc được ghi nhận trong Hiển chương LHQ về việc công nhận phẩm giá vốn có và những quyền bình đăng của mọi thành viên trong xã hội. Hai công ước bao quát về cơ bản nội dung các quyền và tự do chủ yếu của con người đồng thời xác định nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải thúc đây sự tôn trọng và bảo đảm mọi mặt các quyền và (ự đo trong lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của coi: người đã được quy định trong hai công ước. - Nhóm ĐUQT về quyền con người chuyên biệt: Đây là những ĐUQT ghi nhận các quyền của những đối tượng đặc thù trong xã hội, dễ bị tồn thương và cần được bảo vệ đặc biệt như phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người tỊ nạn, người không quốc tịch.Nhóm này cũng bao gồm cả các ĐUQT đề cập đến những biện pháp nhằm ngăn chặn những hành vi đặc biệt nghiêm trọng xâm hai đến một số quyền cụ thể của con người như phân biệt chủng tộc, diệt chủng, tội phạm chiến tranh, tội ác chống nhân loại. Giống như các ĐUQT về quyền con người co bản, các ĐUQT về quyền con người chuyên biệt cũng xây dựng các cơ chế nhằm giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thành viên của các quốc gia trong việc bảo đảm và thúc đây các quyền con người đã được ghi nhận trong DUQT.
Ngoài căn cứ vào nội dung, việc phân loại ĐUQT về quyền con người còn có thể dựa trên phạm vi điều chỉnh của ĐUQT. Theo căn cứ đó, ĐUQT về quyền con 12 người được phân thành hai nhóm: - Nhóm công ước đa phương toàn cầu: Các công ước đa phương toàn cầu về quyên con người là những ĐUQT được ký kết với sự tham gia đông đảo của các quốc gia không phân biệt vị trí địa lý, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế. Việc ký kết các công ước đa phương toàn cầu về quyền con người thé hiện sự đồng quan điểm của các quốc gia về tính phổ biến của quyền con người. Theo đó, quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của con người và được áp dụng bình dang cho tat cả mọi người không có sự phân biệt về chủng tộc, dân tộc, giới tinh, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân, địa vị xã hội.
- Nhóm ĐUQT khu vực: Khác với các công ước đa phương toàn cau, các ĐUQT khu vực về quyền con người được ký kết với sự tham gia của các quốc gia trong cùng khu vực địa lý. Hiện nay, một số khu vực trên thế giới đã có các ĐUQT về quyền con người của khu vực như châu Âu với Công ước về bảo vệ quyền con người va :ự do cơ bản năm 1950; châu Mỹ với Công ước về quyền con người năm 1969, Côrg ước về phòng ngừa và chống tra tắn năm 1985; châu Phi với bản Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc năm 1981, Hiến chương châu Phi về quyền trẻ em năm 1990. Mic dù khác nhau về phạm vi điều chỉnh nhưng nội dung của tất cả các DUQT về quyền con người, bao gồm cả công ước đa phương toàn cầu và DUQT khu vực, lều phản ánh tinh thần của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền vốn được xem là “rụe tiêu chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phan đấu dat tới” [20, tr. Cic công ước toàn cầu và các ĐUQT khu vực về quyền con người có tác động bổ sung và hỗ trợ nhau.
Công ước toàn cầu xác định những chuẩn mực chung nhất còn các ĐUQT khu vực sẽ đưa ra các chuẩn mực về quyền và việc thi hành các quyền ở mức độ cao hơn trên cơ sở những đặc trưng khác nhau của từng khu vực. TẾ cả các ĐUQT về quyền con người cùng với một số tập quán quốc tế trong lĩnh vực này đã tạo thành hệ thống những nguyên tắc và quy phạm của Luật quốc tế v3 quyền con người - một ngành luật chuyên biệt của hệ thống pháp luật quốc tế bên cạnh các ngành luật khác như Luật Biên quốc tế, Luật ĐUQT, Luật Ngoại gi:o và Lãnh sự. Luật quốc tế về quyền con người được xây dựng và phát triển dựa trên các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc tế và các nguyên tắc chuyé biệt của ngành luật như nguyên tắc dân tộc tự quyết, nguyên tắc các quốc gia 26 nghĩa vụ hợp tác, nguyên tắc Pacta sunt servanda. Trên cơ sở nhíng nguyên tắc đó, Luật quốc tế về quyền con người khẳng định tính phổ biên của :ác quyền con người, công nhận việc bảo vệ và phát triển quyền con người 13 là mục tiêu chung của nhân loại.
xác định tính toàn diện của quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Luật quốc tế về quyền con người quy định nghĩa vụ cho các quốc gia đối với việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người không bị giới hạn bởi yếu tố lãnh thé hay sự khác biệt về điều kiện chính trỊ, kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó, trong Luật quốc tế về quyền con người luôn tồn tại những bảo đảm pháp lý cơ bản để các hoạt động tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người không xâm hại đến lợi ích hợp pháp của từng quốc gia hay lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Định nghĩa cơ chế thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người Hiện nay, trong khoa học pháp lý quốc tế chưa có định nghĩa cụ thể nào về “cơ chế thực hiện DUQT vé quyén con người”.
Để có được định nghĩa này, trước hết cần phân tích và làm rõ về mặt lý luận hai thuật ngữ: “cơ chế” và “thực hiện DUQT” “Cơ chế” là thuật ngữ được sử dung trong nhiều lĩnh vực khoa hoc khác nhau như kinh tế học, tâm lý học, chính trị học, hóa học, y học. Khi sử dụng kết hợp với một số thuật ngữ khác, thuật ngữ “cơ chế” góp phần tạo thành các khái niệm chuyên môn của các lĩnh vực khoa học đó như “cơ chế kinh tế”, “cơ chế tâm lý”, “cơ chế phản ứng”, “cơ chế gây bệnh”. Trong khoa học pháp lý tồn tại khái niệm “cơ chế điều chỉnh pháp luật”, “cơ chế áp dụng pháp luật”. Tuy nhiên, nội dung của thuật ngữ “cơ chế” được giải thích có sự khác nhau nhất định.