Luận văn thạc sĩ: Cải thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích vnu ls hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2014

89
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA

1.1. Tính tất yếu của dự trữ quốc gia, cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

1.1.1. Khái niệm về dự trữ, dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia, cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

1.1.2. Tính tất yếu của dự trữ quốc gia và cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

1.2. Nội dung cơ bản của cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

1.3. Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến dự trữ quốc gia, cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

1.3.1. Các nhân tố chính trị - xã hội

1.3.2. Các nhân tố về tiềm lực kinh tế

1.3.3. Các nhân tố tự nhiên

1.3.4. Các nhân tố về cơ sở vật chất và công nghệ

1.3.5. Các nhân tố về cơ chế chính sách, quản lý nền kinh tế

1.3.6. Các nhân tố về tổ chức và trình độ tổ chức hoạt động dự trữ quốc gia

1.3.7. Các nhân tố thuộc về quan hệ quốc tế

1.4. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia và khả năng ứng dụng vào Việt Nam

1.4.1. Quan điểm của một số nước trên thế giới về cơ chế quản lý của nhà nước về dự trữ quốc gia

1.4.2. Những kinh nghiệm rút ra và khả năng ứng dụng vào Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM

2.1. Cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia và qua các thời kỳ ở Việt Nam

2.2. Dự trữ quốc gia phục vụ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam từ 1956 – 1975

2.3. Dự trữ quốc gia phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH từ 1976 đến 1985

2.4. Hoạt động dự trữ quốc gia trong sự nghiệp đổi mới từ 1986 đến nay

2.5. Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia giai đoạn 2005 đến nay

2.5.1. Đánh giá thực trạng việc ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về dự trữ quốc gia

2.5.2. Đánh giá tình hình thực hiện chiến lược phát triển, kế hoạch dự trữ quốc gia giai đoạn 2005 - đến nay

2.5.3. Đánh giá về thực trạng tổ chức Dự trữ quốc gia

2.6. Những kết luận cơ bản rút ra qua nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam

2.6.1. Những kết quả đạt được trong việc xây dựng cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

2.6.2. Những hạn chế, tồn tại của cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM

3.1. Mục tiêu hoàn thiện cơ chế chính sách dự trữ quốc gia đến năm 2020

3.2. Dự báo về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến dự trữ quốc gia

3.3. Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2020

3.4. Mục tiêu chiến lược phát triển ngành Tài chính Việt Nam đến năm 2020

3.5. Mục tiêu chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020

3.6. Quan điểm, định hướng hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam

3.7. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam

3.7.1. Nâng cao khả năng nghiên cứu dự báo, hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển dự trữ quốc gia và kế hoạch dự trữ quốc gia

3.7.2. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý dự trữ quốc gia và tổ chức thực hiện có hiệu quả

3.7.3. Hoàn thiện tổ chức Dự trữ quốc gia

3.7.4. Hoàn thiện quản lý, điều hành hoạt động dự trữ quốc gia

3.7.5. Những điều kiện cơ bản để thực hiện các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam

3.7.5.1. Nhà nước tạo điều kiện để xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về dự trữ quốc gia
3.7.5.2. Cần có sự phối hợp với các bộ, ngành liên quan
3.7.5.3. Tạo điều kiện để thực hiện tốt công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng kho tàng dự trữ quốc gia

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia tại Việt Nam

Cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững. Dự trữ quốc gia không chỉ là nguồn lực tài chính mà còn là công cụ để ứng phó với các tình huống khẩn cấp. Việc hoàn thiện cơ chế này là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên quốc gia.

1.1. Khái niệm và vai trò của dự trữ quốc gia

Dự trữ quốc gia là tài sản do Nhà nước quản lý, bao gồm hàng hóa, vật tư thiết yếu nhằm ứng phó với thiên tai, dịch bệnh và đảm bảo an ninh quốc phòng. Vai trò của dự trữ quốc gia không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ an ninh lương thực mà còn góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển cơ chế quản lý

Cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những năm đầu thành lập đến nay. Các chính sách và quy định đã được ban hành nhằm tạo ra khung pháp lý cho hoạt động dự trữ quốc gia, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên.

II. Những thách thức trong cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia vẫn gặp phải nhiều thách thức. Những vấn đề này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ quốc gia.

2.1. Thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật

Nhiều quy định pháp luật liên quan đến dự trữ quốc gia còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn trong việc thực hiện và quản lý. Điều này dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc áp dụng các chính sách và quy định hiện hành.

2.2. Khó khăn trong việc dự báo và hoạch định

Việc dự báo nhu cầu và hoạch định kế hoạch dự trữ quốc gia gặp nhiều khó khăn do sự biến động của thị trường và các yếu tố tự nhiên. Điều này ảnh hưởng đến khả năng ứng phó kịp thời với các tình huống khẩn cấp.

III. Phương pháp cải thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia, cần áp dụng các phương pháp cải thiện cụ thể. Những giải pháp này sẽ giúp tối ưu hóa hoạt động dự trữ và đảm bảo an ninh lương thực.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Cần rà soát và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dự trữ quốc gia. Việc này sẽ giúp tạo ra khung pháp lý rõ ràng, đồng bộ và dễ áp dụng cho các cơ quan quản lý.

3.2. Tăng cường năng lực dự báo và hoạch định

Cần đầu tư vào công nghệ và phương pháp nghiên cứu để nâng cao khả năng dự báo nhu cầu và hoạch định kế hoạch dự trữ. Điều này sẽ giúp cải thiện khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dự trữ quốc gia

Việc áp dụng các giải pháp cải thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Những ứng dụng thực tiễn này cần được nhân rộng để nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ quốc gia.

4.1. Kết quả đạt được từ các chính sách hiện hành

Các chính sách hiện hành đã giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng dự trữ quốc gia. Những kết quả này thể hiện rõ qua việc giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và dịch bệnh.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc quản lý dự trữ quốc gia sẽ giúp Việt Nam rút ra bài học quý giá. Những mô hình thành công có thể được áp dụng để cải thiện cơ chế quản lý tại Việt Nam.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho dự trữ quốc gia

Cải thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia là nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Những giải pháp và phương hướng đã được đề xuất sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ quốc gia trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc hoàn thiện cơ chế quản lý

Việc hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và áp dụng các giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phải có và tăng cường DTQG là một hiển nhiên đảm bảo cho an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Thứ tư, trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh của mình. Khi doanh nghiệp là người tự quyết định trong sản xuất kinh doanh, tự do cạnh tranh thì không thể ép buộc họ gánh vác trách nhiệm dự trữ cho toàn xã hội, cho những trường hợp xảy ra ngẫu nhiên. Vì vậy, chỉ có Nhà nước với trách nhiệm quản lý toàn xã hội phải hình thành DTQG, bất luận chế độ chính trị - xã hội nào, ở đâu thì mọi Nhà nước đều phải có DTQG.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ năm, dự trữ quốc gia cần thiết như một công cụ hữu hiệu để Chính phủ điều hành vĩ mô nền kinh tế, xử lý những diễn biến bất lợi của thị trường, nhất là trong điều kiện hội nhập, toàn cầu kinh tế hiện nay chứa đựng cả cơ hội lẫn thách thức đan xen. Vì vậy, DTQG là công cụ để khắc phục có hiệu quả những khuyết tật của cơ chế thị trường, nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Cuối cùng, dự trữ quốc gia hình thành do yêu cầu ổn định chính trị, xã hội, an ninh - quốc phòng, nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và thực hiện các chính sách của xã hội cũng như nhiệm vụ quốc tế của Đảng và Nhà nước. Như vậy, DTQG hình thành là do yêu cầu khách quan của chính quá trình vận động của quốc gia, như là sự cần thiết cho quá trình vận động của một cơ thể sống.

Sự cần thiết khách quan của cơ chế quản lý nhà nước về DTQG Quản lý xã hội bằng pháp luật là một nhu cầu cấp thiết, là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo xây dựng mục tiêu xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Căn cứ vào pháp luật, nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thực hiện quản lý DTQG phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật, pháp luật phải thực sự nghiêm minh, công bằng.

Hoạt động DTQG là hoạt động của một ngành lĩnh vực kinh tế đặc thù trong nền kinh tế, sự cần thiết khách quan của cơ chế quản lý nhà nước về DTQG bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan về sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế; nhằm cho hoạt động DTQG theo đúng khuôn khổ của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, có hiệu lực, hiệu quả khắc phục được những hạn chế tiêu cực trong quá trình hoạt động. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ thực tiễn quản lý, điều hành dự trữ quốc gia hơn 57 năm qua cho thấy cơ chế quản lý nhà nước về DTQG đã có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành, phát triển của DTQG qua các thời kỳ; có thời kỳ do thiếu hoặc chưa đồng bộ về cơ chế chính sách của Nhà nước về DTQG đã làm cho hoạt động của DTQG thiếu hiệu lực, kém hiệu quả và dẫn đến những sai lầm đáng tiếc xảy ra trong những năm đầu (1989 -1990) khi bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường. Sự không theo kịp để xây dựng hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG đã chỉ ra điều đó – sự kiện qua Thanh tra Nhà nước năm 1990, nhiều đơn vị, cán bộ của ngành DTQG vi phạm gây thất thoát tiền, tài sản, ngân sách nhà nước phải xử lý bằng pháp luật; vay nợ DTQG với giá trị lớn cho đến nay vẫn chưa thu hồi được mãi là bài học kinh nghiệm đau xót [22]. Đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia a) Dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt (phòng ngừa rủi ro) ở tầm vĩ mô, được tích luỹ dần từng bước theo kế hoạch Nhà nước, việc nhập, xuất, sử dụng phải theo đúng kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường, những bất trắc không thể lường trước, những khủng hoảng có thể xảy ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.

Việc bổ sung DTQG được quy định trong kế hoạch cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân do Bộ Kế hoạch & Đầu tư tổng hợp để Chính phủ trình Quốc hội quyết định. b) Hàng DTQG là vật tư, thiết bị, hàng hóa trong Danh mục hàng dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, nắm giữ để sử dụng vào mục tiêu dự trữ quốc gia [14, Điều 4]. Các mặt hàng thuộc Danh mục hàng dự trữ quốc gia 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải đáp ứng mục tiêu dự trữ quốc gia và có một trong các tiêu chí sau đây: Là mặt hàng chiến lược, thiết yếu, có tần suất sử dụng nhiều, có tác dụng ứng phó kịp thời tình huống đột xuất, cấp bách; là mặt hàng đặc chủng, không thể thay thế; là vật tư, thiết bị, hàng hóa bảo đảm quốc phòng, an ninh mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, chủng loại [14, Điều 27]. c) Sự điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, có sự phân công quản lý hàng DTQG cho các Bộ, ngành theo quy định của Chính phủ: DTQG được thực hiện theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, quyết định sự hình thành tổng mức dự trữ, cơ cấu tỷ lệ dự trữ giá trị và những vật tư hàng hoá phù hợp với yêu cầu của đất nước, của nền kinh tế theo từng thời kỳ và quyết định sử dụng điều hành DTQG thuộc thẩm quyền của Nhà nước, do Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định.

d) Nguồn hình thành dự trữ quốc gia: Dự trữ quốc gia được hình thành từ các nguồn: Ngân sách nhà nước; nguồn lực hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước được đưa vào dự trữ quốc gia bao gồm các nguồn lực có được từ tự nguyện đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp công nghệ thông tin cho hoạt động quản lý và bảo quản hàng dự trữ quốc gia, trực tiếp bảo quản hàng dự trữ quốc gia; hàng hóa, vật tư được huy động từ các tổ chức, cá nhân trong tình huống đột xuất, cấp bách theo quy định của pháp luật [14, Điều 6]. Ngân sách nhà nước chi cho dự trữ quốc gia thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm. Bộ Tài chính quản lý, phân bổ khoản chi cho mua hàng dự trữ quốc gia, mua bù hàng dự trữ quốc gia đã xuất trong năm kế hoạch sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt [14, Điều 28]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com e) Việc tính toán chuẩn xác đại lượng dự trữ, xác định định mức (danh mục, số lượng, quy mô) DTQG là rất khó khăn và phức tạp.

Việc tổ chức quản lý DTQG, hoạt động DTQG cũng rất phức tạp, nó đòi hỏi rất cao và toàn diện về năng lực dự báo những xu hướng lớn về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, dự báo về tần xuất xảy ra thiên tai và khủng hoảng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. g) Nguyên tắc quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia: Hàng dự trữ quốc gia phải được quản lý chặt chẽ, an toàn, bí mật theo quy định của pháp luật; chủ động đáp ứng kịp thời yêu cầu, mục tiêu của dự trữ quốc gia. Hàng dự trữ quốc gia sau khi xuất phải được bù lại đủ, kịp thời. Hàng dự trữ quốc gia phải được sử dụng đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật; không được sử dụng hàng dự trữ quốc gia để kinh doanh [14, Điều 7].

Hiệu quả của hoạt động dự trữ quốc gia Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 hiến định: “Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật” [15, Điều 55]. Hoạt động DTQG không là hoạt động sản xuất và cũng không phải hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, nó là hoạt động đặc biệt nhằm đảm bảo ổn định xã hội, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia để đảm bảo sự cân bằng cho phát triển đất nước. Hiệu quả của hoạt động DTQG phải được xem xét, đánh giá trên hai góc độ. Thứ nhất là góc độ: xã hội - kinh tế, tức là đáp ứng mục tiêu ổn định xã hội, phát triển bền vững kinh tế; thứ hai là góc độ: hiệu quả kinh tế, bằng việc đánh giá những tổn thất kinh tế cụ thể của hoạt động DTQG như là hao hụt, mất mát, hư hỏng, tổn thất hoặc giảm phẩm cấp của hàng dự trữ.

Vì vậy, cần xem xét hiệu quả của hoạt động DTQG trên cả hai góc độ: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội- kinh tế và hiệu quả kinh tế, nhưng chủ yếu phải xem xét góc độ đáp ứng mục tiêu ổn định xã hội - kinh tế để đánh giá trong mối quan hệ với hiệu quả kinh tế của hoạt động nghiệp vụ DTQG. Nội dung cơ bản của cơ chế quản lý nhà nƣớc về dự trữ quốc gia Mục đích của quản lý nhà nước về DTQG là thực hiện một loạt các biện pháp quản lý nhằm định hướng, điều chỉnh các quan hệ xã hội, các tổ chức đoàn thể, người dân để hình thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ