Phần mở đầu giới thiệu đề tài nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 1 trình bày tổng quan về VDB và thực trạng an toàn tín dụng tại VDB. Chƣơng 2 đi vào phân tích những nguyên nhân ảnh hƣởng đến an toàn tín dụng tại VDB. Chƣơng 3 thảo luận các kinh nghiệm quốc tế và đƣa ra những khuyến nghị chính sách.
Phần cuối cùng là kết luận cho toàn bộ nội dung luận văn. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ NHẬN DIỆN THỰC TRẠNG AN TOÀN TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM Ngân hàng chính sách phát triển là loại hình ngân hàng của chính phủ và có ở nhiều nơi trên thế giới với nhiệm vụ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trọng tâm của nhà nƣớc. VDB là ngân hàng chính sách của chính phủ Việt Nam nên thực hiện các nhiệm vụ theo định hƣớng của chính phủ. Chƣơng này sẽ cho thấy bức tranh tổng thể về VDB và thực trạng an toàn tín dụng tại VDB hiện nay.
Tổng quan hoạt động của VDB VDB là ngân hàng chính sách của chính phủ đƣợc thành lập dựa trên Luật ngân sách nhà nƣớc (NSNN) và Luật các tổ chức tín dụng với số vốn điều lệ năm 2006 là 5.000 tỷ đồng, và tăng lên 10.000 tỷ đồng6 vào tháng 3/2007. VDB hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không tham gia bảo hiểm tiền gửi, đƣợc chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, đƣợc miễn nộp thuế và các khoản nộp NSNN theo quy định của pháp luật. VDB ra đời nhằm phục vụ các mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc theo định hƣớng của chính phủ. Với quy mô hoạt động hiện nay, VDB có vai trò tƣơng đối lớn trong hệ thống tài chính, ngân hàng nƣớc ta.
Hình thành từ Tổng cục Đầu tƣ Phát triển, kế đến là Quỹ Hỗ trợ phát triển, và sau đó đƣợc thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ 01/7/2006, đến tháng 7/2009, tổng tài sản VDB đạt trên 170.000 tỷ đồng, tăng hơn 63% so với thời điểm mới thành lập. VDB hiện là nhà phát hành công cụ nợ lớn thứ 2 nền kinh tế sau Kho bạc Nhà nƣớc, vốn huy động mới gần 120.000 tỷ đồng, bằng 7% vốn đầu tƣ toàn xã hội cùng kỳ, gấp 1,84 lần so với thời kỳ Quỹ Hỗ trợ Phát triển7. 6 Quy chế quản lý tài chính VDB ban hành kèm theo Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Thủ tướng chính phủ 7 Thông cáo báo chí tháng 8/2009, truy cập ngày 07/9/2010 tại http://www.aspx?ID=DETAIL&INFOID=532 7 Sơ đồ 1. Tổ chức bộ máy Ngân hàng Phát triển Việt Nam Nguồn: Tác giả tự vẽ.
VDB trực thuộc chính phủ và có bộ máy tổ chức theo sơ đồ trên 8. Hội đồng quản lý (HĐQL) là cơ quan cấp cao nhất của VDB, ban kiểm soát giúp HĐQL thực hiện giám sát các hoạt động của bộ máy điều hành. Bộ máy điều hành, đứng đầu là Tổng Giám đốc, là nơi trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ, thực hiện chính sách TDĐT và tín dụng xuất khẩu (TDXK) của nhà nƣớc, cũng nhƣ các chính sách tài chính, ngân hàng theo các mục tiêu của chính phủ. Thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của nhà nƣớc Chính sách TDĐT của nhà nƣớc là trọng tâm để VDB thực hiện các nhiệm vụ tín dụng theo định hƣớng của chính phủ.
Theo đó VDB thực hiện cho vay theo cơ chế tín dụng chỉ định, cho vay đầu tƣ phát triển các dự án trọng điểm quốc gia và cho vay9 phát triển tại các vùng miền có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 và Nghị định 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 (sửa đổi, bổ sung NĐ 8 Xin xem thêm Phụ lục 1 và 2 9 Danh mục cho vay TDĐT xin xem thêm Phụ lục 5 8 151). Trong chính sách TDĐT, VDB còn thực hiện Hỗ trợ sau đầu tƣ và Bảo lãnh TDĐT đối với các dự án thuộc danh mục đầu tƣ theo Nghị định 106 nhƣng không trực tiếp vay vốn từ VDB. Ngoài ra, VDB còn thực hiện cho vay các dự án đầu tƣ ra nƣớc ngoài theo quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ. Bên cạnh chính sách TDĐT, VDB còn thực hiện chính sách TDXK nhằm thúc đẩy phát triển các mặt hàng xuất khẩu theo định hƣớng của nhà nƣớc.
VDB trực tiếp cho vay hỗ trợ xuất khẩu10 với lãi suất ƣu đãi nhƣ lãi suất cho vay tín dụng đầu tƣ đối với các mặt hàng đƣợc nhà nƣớc khuyến khích xuất khẩu theo Nghị định 151 và 106. Ngoài ra, những nhà xuất khẩu các hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng vay vốn TDXK, nhƣng không vay vốn thì đƣợc VDB bảo lãnh TDXK. Cùng với đó, VDB còn thực hiện bảo lãnh dự thầu xuất khẩu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu cho các doanh nghiệp có hàng hóa xuất khẩu thuộc danh mục mặt hàng vay vốn TDXK. Tổng quan một số chỉ tiêu hoạt động của VDB đến 31/12/2010 (Đơn vị: tỷ đồng) 2009 2010 STT Chỉ tiêu Thực hiện Số dƣ Thực hiện Số dƣ I Tổng dƣ nợ hoạt động tín dụng 168.700 1 Cho vay tín dụng đầu tƣ 21.186 2 Cho vay tín dụng xuất khẩu 32.000 3 Cho vay lại vốn ODA (quy ra VND) 8.835 4 Cho vay xúc tiến (thí điểm) 5.385 5 Cho vay vốn nhận ủy thác 3.294 II Các hoạt động khác 1 Cấp phát vốn dự án thủy điện Sơn La 3.392 2 Hỗ trợ sau đầu tƣ 255 235 3 Bảo lãnh doanh nghiệp vay vốn NHTM Số thông báo chấp thuận bảo lãnh 11.402 Trong đó phát hành chứng thƣ 7.300 10 Nguồn: Báo cáo tổng hợp của VDB năm 2009 và 2010.
Danh mục cho vay TDXK xin xem thêm Phụ lục 4 9 Theo bảng 1.2, dƣ nợ TDĐT chiếm tỷ trọng lớn, trên 43% tổng dƣ nợ, dƣ nợ TDXK chiếm khoảng 10% nhƣng doanh số cho vay và thu nợ hằng năm rất cao. Năm 2009, TDXK giải ngân 32.446 tỷ đồng, thu nợ gốc 28.507 tỷ đồng, cao hơn cả TDĐT giải ngân 21.686 tỷ đồng, thu nợ gốc 10. Nhƣ vậy, cơ cấu dƣ nợ chính là TDĐT, ODA và TDXK, nhƣng doanh số cho vay và thu nợ hằng năm có ảnh hƣởng lớn đến an toàn tín dụng tại VDB chủ yếu vẫn là TDĐT và TDXK. Theo quy chế quản lý tài chính, VDB đƣợc cấp bù chênh lệch lãi suất (CLLS) khi thực hiện nhiệm vụ TDĐT và TDXK.
Mức cấp bù đƣợc xác định trên cơ sở CLLS giữa lãi suất hòa đồng các nguồn vốn với lãi suất cho vay và dƣ nợ cho vay. VDB cũng đƣợc NSNN cấp phí quản lý hàng năm đối với hoạt động TDĐT và TDXK, mức cấp đƣợc xác định bằng 25% trên số thu nợ lãi cho vay TDĐT và TDXK11. Các hoạt động khác Đến tháng 12/2010, VDB đƣợc chính phủ ủy thác cho vay lại vốn ODA với 420 dự án, đạt khoảng 9,57 tỷ USD, chiếm 60% tổng nguồn vốn ODA của cả nền kinh tế12. Dƣ nợ vốn ODA có tỷ trọng lớn, chiếm khoảng 43% tổng dƣ nợ nhƣng giải ngân và thu nợ thì lại thấp hơn TDĐT và TDXK.
Năm 2009, vốn ODA giải ngân 8.069 tỷ đồng, thu nợ gốc 3. Mặt khác, vốn ODA đƣợc chính phủ ủy thác giao cho VDB quản lý cho vay lại cho nên ít ảnh hƣởng đến an toàn tín dụng tại VDB nhƣ TDĐT và TDXK. Nhằm tạo điều kiện cho khách hàng ổn định sản xuất ban đầu, VDB thực hiện cho vay thí điểm theo lãi suất thỏa thuận trong toàn hệ thống kề từ cuối năm 2007. Tuy nhiên loại hình này đang trong thời kỳ thí điểm nên còn chờ kết quả đánh giá, tổng kết của VDB (dự kiến 2011) để trình chính phủ xem xét và quyết định chính thức.
Thực hiện chính sách kích cầu của chính phủ, kể từ năm 2009, VDB thực hiện bảo lãnh cho tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đƣợc vay vốn đầu tƣ và sản xuất kinh doanh 11 Xin xem thêm Quy chế quản lý tài chính VDB tại Phụ lục 3 12 Nguyễn Chí Trang- Phó TGĐ VDB, truy cập ngày 19/5/2011 tại http://www.aspx?ID=DETAIL&INFOID=1535 10 tại các NHTM. Năm 2009, VDB chấp thuận bảo lãnh 11.500 tỷ đồng, trong đó phát hành chứng thƣ 7.223 tỷ đồng, số dƣ bảo lãnh đến 31/12/2010 là 4. VDB thực hiện huy động vốn chủ yếu từ phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) và chứng chỉ tiền gửi, các nguồn vốn từ Tiết kiệm bƣu điện, Quỹ Bảo hiểm xã hội và các tổ chức kinh tế, tài chính, tín dụng trong và ngoài nƣớc. VDB không thực hiện huy động vốn từ dân cƣ nên không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
VDB còn nhận cấp phát và cho vay vốn ủy thác từ các tổ chức nhƣ Tập đoàn Điện lực, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các tổ chức khác từ chính nguồn vốn của các đơn vị này. VDB đƣợc hƣởng phí từ hoạt động cấp phát và cho vay vốn ủy thác. Ngoài ra, VDB còn thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TDĐT và TDXK của nhà nƣớc và một số nhiệm vụ khác do Thủ tƣớng chính phủ giao. Thực trạng an toàn tín dụng tại VDB hiện nay Với đặc thù là một ngân hàng chính sách thuộc sở hữu nhà nƣớc, VDB chịu nhiều sự can thiệp trong điều hành hoạt động, đặc biệt là chỉ định tín dụng từ chính phủ.
Tín dụng chỉ định sẽ làm cho ngân hàng nảy sinh tâm lý ỷ lại, trông chờ vào ý kiến chỉ đạo của chính phủ, thiếu tự chủ trong việc quyết định cấp tín dụng, đồng thời ngân hàng cũng không có động cơ quản lý tín dụng một cách tốt nhất. Việc chỉ định cho vay sẽ làm cho ngân hàng không có đủ thông tin cần thiết về khách hàng, về dự án vay vốn nên không thể thẩm định chính xác đƣợc các khoản cấp tín dụng của mình. Chất lƣợng tín dụng từ đó cũng kém an toàn và rủi ro tín dụng sẽ có nguy cơ xuất hiện nhiều hơn. Thực trạng an toàn tín dụng tại VDB đƣợc thể hiện qua các số liệu về khả năng cân đối nguồn vốn và tỷ lệ nợ xấu, NQH tại VDB.
Khả năng cân đối nguồn vốn 1. Huy động vốn 11 Phần lớn nguồn vốn huy động tại VDB là từ kênh phát hành TPCP hoặc trái phiếu đƣợc chính phủ bảo lãnh, trong khi nguồn tiết kiệm bƣu điện và các nguồn lãi suất rẻ ngày càng hạn hẹp. Vốn phát hành TPCP bình quân 3 năm 2006-2009 tại VDB chiếm 55% tổng nguồn huy động và chiếm 29% tổng giá trị niêm yết toàn thị trƣờng. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu của VDB là vốn điều lệ, vốn cấp từ NSNN, vốn phát hành TPCP, vốn tiếp nhận và huy động của các tổ chức kinh tế xã hội.