CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Định nghĩa hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Điều này có nghĩa ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, ngân hàng có khả năng thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc và phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh (Đinh Xuân Hạng, 2012). Theo Luật các Tổ chức tín dụng của Nhà nước Việt Nam số 02/1997/QH10 ban hành năm 1997, điều 49 nêu rõ: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của nhà nước”. Hoạt động tín dụng của ngân hàng dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời.
Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của NHNN và các NHTM, trong đó, các nguyên tắc cơ bản như sau: - Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định; - Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thỏa thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp trên; Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 5 - Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dự trên phương án hoặc dự án có hiệu quả. Vai trò hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Đứng trên góc độ kinh tế học, tín dụng ngân hàng được hiểu như là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng với các tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm, làm thoả mãn nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trong kinh doanh. Sự xuất hiện của tín dụng ngân hàng là hết sức cần thiết và có vai trò to lớn đối với bản thân ngân hàng nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung (Lê Văn Tư, 2003). - Vai trò của tín dụng đối với ngân hàng: Trong hoạt dộng sản xuất kinh doanh mục tiêu hàng đầu của ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận.
Ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ cung cấp cho khách hàng như thanh toán, tư vấn và quan trọng nhất là hoạt động tín dụng. Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh trên nguyên tắc huy động tiền gửi của khách hàng (nghiệp vụ huy động vốn) dưới hình thức tài khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi. Trên cơ sở đó, ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu vay của khách hàng. Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt động cho vay và chi phí phải trả cho các khoản huy động là lợi nhuận thu được.
Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng và lợi nhuận từ nghiệp vụ này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng - Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế: +Tín dụng ngân hàng góp phần thu hút số tiền nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng là một hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM. Để thực hiện quá trình kinh doanh, ngân hàng phải có nguồn vốn và trên cơ sở nguồn vốn đó để đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Nói cách khác, ngân hàng phải thực sự trở thành người đi vay để cho vay. Trong nền kinh tế thường xuyên xuất hiện những nguồn vốn bằng tiền tạm thời chưa sử dụng thuộc các thành phần Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 6 kinh tế.
Đồng thời, ở các thành phần kinh tế khác, hiện tượng thiếu vốn tạm thời lại cần được giải quyết. Sự tham gia của tín dụng ngân hàng được coi như một công cụ để giải quyết vấn đề trên đây về cung - cầu vốn tiền tệ. Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các chính sách tài chính tiền tệ, sự hoạt động của thị trường tài chính, thị trường vốn, thị trường tiền tệ. tín dụng ngân hàng góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
Điều đó vừa làm tăng trưởng khả năng tích luỹ tư bản của các ngân hàng vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng kinh tế làm cho hệ thống ngân hàng ngày càng lớn mạnh. + Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng quan hệ lưu thông hàng hoá quốc tế: Ngày nay, trong mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và khu vực đang được phát triển rất đa dạng cả về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đó là nhân tố hết sức quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển của mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng thông qua quá trình nhận và cho vay tài trợ xuất nhập khẩu của các nước.
Cấp tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng, cùng với sự tham gia trực tiếp vào quan hệ thanh toán quốc tế, tín dụng ngân hàng đã làm tăng mối quan hệ tốt đẹp giữa các nước, đồng thời thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy tín dụng sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất khẩu hàng hoá. + Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi động thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt đầu bằng tiền tệ và kết thúc bằng khối lượng tiền tệ lớn hơn, tạo điều kiện để tái mở rộng hoạt động. Trong chu trình này, tăng nhanh vòng quay vốn tiền tệ là một trong các yếu tố quyết định thành công trong sản xuất kinh doanh.
Để rút ngắn thời gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải chủ động tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như: ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hoàn thiện nghệ Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 7 thuật quản trị kinh doanh, tìm kiếm thị trường mới. Những việc làm này đòi hỏi một khối lượng lớn về vốn, tín dụng ngân hàng sẽ là người đáp ứng nhu cầu đó.Những quan hệ tín dụng nảy sinh việc vay vốn phải được hoàn trả đầy đủ với một khoản lãi kèm theo (theo lãi suất quy định), trong thời hạn thoả thuận đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng.Trường hợp nguyên tắc tín dụng trên đây bị vi phạm tổ chức kinh tế phải chịu phạt lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất thông thường hoặc bị tước quyền vay vốn hoặc thanh lý tài sản đã thế chấp để trả nợ ngân hàng. Khi vay vốn các chủ thể kinh doanh phải tìm mọi biện pháp để tăng nhanh vòng quay vốn, kinh doanh có lãi, thu hồi vốn để trả nợ và lãi vay ngân hàng đúng hạn. + Tín dụng ngân hàng với việc điều chỉnh chiến lược kinh tế, góp phần chống lạm phát tiền tệ: Tín dụng ngân hàng tạo nguồn vốn từ huy động các đồng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh hoạt và phù hợp với chỉ số giá cả đánh giá hàng hoá để thu hút được nguồn vốn đủ lớn cho việc đầu tư vào các công trình trọng điểm mà chiến lược kinh tế đã đề ra.
Hình thức huy động vốn bằng nghiệp vụ tín dụng ngân hàng có ý nghĩa kinh tế to lớn nó không làm tăng thêm khối lượng tiền lưu thông nên không ảnh hưởng đến lưu thông tiền tệ và giá cả. Trong khi đó, nếu Nhà nước phát hành tiền giấy cho ngân sách dù có đưa vào đầu tư phát triển các chương trình kinh tế mang tính chiến lược cũng dẫn đến tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông, gây nên lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và đời sống xã hội. Như vậy, tín dụng ngân hàng không chỉ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn là đòn bẩy kinh tế, công cụ để Nhà nước điều tiết sản xuất, điều chỉnh chiến lược kinh tế, phân công lao động xã hội, góp phần hạn chế việc phát hành tiền vào lưu thông, sử dụng có hiệu quả vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, góp phần kiềm chế lạm pháp, ổn định sức mua của đồng tiền. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại RRTD gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của NHTM – Hoạt động tín dụng.
RRTD mang tính khách quan và là điều không thể tránh khỏi Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 trong kinh doanh. Theo Phan Thị Thu Hà (2010), rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện đủ hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết. Điều này có nghĩa RRTD phát sinh khi ngân hàng không thu được đầy đủ hoặc thu không đúng kỳ hạn cả gốc và lãi của khoản tiền đã cho vay. Hiện nay, người ta sử dụng nhiều tiêu chí phản ảnh RRTD của NHTM như: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu. - Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất. - Nợ đáng nghi ngờ (nợ có vấn đề) - có khả năng chuyển thành nợ xấu cao. - Nợ không có tài sản đảm bảo.