Chương 1:Một số nội dung cơ bản về chất lượng thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh Nghệ An thời gian qua Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương - Chi nhánh Nghệ An 7 CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Một số nội dung cơ bản về thẩm định dự án đầu tƣ tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tƣ 1. Khái niệm dự án đầu tư Đầu tư được coi là động lực của sự phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng của mọi quốc gia trên thế giới. Có thể hiểu đầu tư là việc huy động nguồn lực để biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài trong tương lai.
Trong đó: các nguồn lực chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, thời gian. ; lợi ích dự kiến có thể lượng hóa được( hay đo được hiệu quả bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận.) mà cũng có thể không lượng hóa được ( như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng. Đối với doanh nghiệp, đầu tư hiểu đơn giản là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Còn trên quan điểm xã hội thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế- xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.
Nhưng cho dù đứng từ góc độ nào đi chăng nữa, muốn tối đa hóa hiệu quả của đầu tư thì trước khi quyết định đầu tư, nhất thiết phải có dự án đầu tư. Và trên thực tế, hoạt động đầu tư được thể hiện tập trung qua việc thực hiện các dự án đầu tư. Vậy dự án đầu tư là gì ? Có rất nhiều khái niệm về dự án đầu tư theo các quan điểm sau : Theo Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2014 thì dự án đầu tư được định nghĩa như sau:“Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.Trong luận văn sử dụng khái niệm dự án đầu tư theo quy định pháp lý của Việt Nam hiện nay. 8 Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đặt được những mục tiêu nhất định trong thời gian nhất định.
Về mặt hình thức đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Trên góc độ quản lý dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các thành phần chính như sau: - Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Cụ thể là khi thực hiện dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho bản nhà đầu tư nói riêng. Những mục tiêu này cần được biểu hiện bằng kết quả cụ thể như tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư… - Các hoạt động của dự án: Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể phải thực hiện, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn thành và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hành động đó. - Các nguồn lực: hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính, con người…Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho dự án, tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.Khái niệm thẩm định dự án đầu tư Hoạt động đầu tư đã đóng một vai trò không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển ổn định kinh tế xã hội.
Để phát huy được mặt tích cực của các dự án đầu tư và hạn chế được những mặt tiêu cực của nó thì khi chấp thuận việc thực hiện một dự án, người ta thường phân tích đánh giá, xem xét dự án về các mặt tài chính, kinh tế xã hội… Những hoạt động xem xét, đánh giá dự án nhằm những mục tiêu nói trên được gọi là “thẩm định dự án”. Trên góc độ chủ đầu tư: Thẩm định dự án là đề ra quyết định đầu tư. Mục tiêu của nhà đầu tư là thu lợi nhuân. Dự án có mức sinh lời càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu tư.
Do vậy, thẩm định dự án của chủ đầu tư với mục tiêu chủ yếu là đánh glá khả năng sinh lời về tài chính của dự án (song vẫn phải đảm bảo lợi ích kinh tế xa hội), trên cơ sở đó lựa chọn dự án cỏ hiệu quả, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Thẩm định dự án giúp chủ đầu tư sử dụng có hiệu quả vốn của mình, tuân thủ đúng) các quy định cua nhà nước về đầu tư và xây dựng. Trong xu thế hội nháp kinh te quóc tế, cùng với sự phân cấp mạnh trong quản lý hoạt động đầu tư, các doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm, khai thác dự án, huy động và sử dụng vốn có hiệu qua. Quyết định đầu tư chuẩn xác được dựa trên cơ sở của kết quả thẩm định.
Thẩm định dự án đầu tư trong doanh nghiệp được xem là một trong những công cụ quản lý đầu tư hữu hiệu. - Đối với Nhà nước, ngoài khả năng sinh lời là thước đo chủ yếu và là động lực thúc đẩy bỏ vốn đầu tư thì trên phương diện của 1 quốc gia, lợi ích kinh tế- xã hội mà dự án đem lại mới chính là căn cứ để xem xét và cho phép đầu tư. Một dự án sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn nếu nó thực sự có đóng góp cho nền kinh tế và xã hội cũng như nó đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước .Vì vậy Nhà nước tiến hành thẩm định là để ra quyết định đầu tư đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước và cho phép đầu tư đố với dự án sử dụng vốn khác khi nó đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho quốc gia. - Đối với ngân hàng: Là một tổ chức tài chính cho vay để sinh lời, vì vậy khi 10 thực hiện cho vay, ngân hàng có sự sàng lọc, kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo chắc chắn vốn vay được sử dụng đúng mục đích, có hiêu quả để đảm bảo khả năng thu hồi nợ và sinh lãi của mình.
Công việc đó được thể hiện qua hoạt động thẩm định dự án, ngoài ra nó còn là cơ sở để ngân hàng xác đinh số tiền vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lí, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong tương lai. Như vậy, "Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan có khoa học, toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án, từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư" (Lưu Phương Thùy, 2016). Theo khái niệm trên, thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét, phân tích một cách khách quan toàn diện, độc lập những nội dung cơ bản của dự án đầu tư đồng thời đánh giá chính xác những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án nhằm đưa ra quyết định cho vay đảm bảo hiệu quả an toàn. Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một cách độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo dự án.
Thẩm định dự án đã tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Nội dung thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại 1. Thẩm định tính pháp lý và mục tiêu của dự án Nội dung thẩm định gồm: Tư cách pháp nhân của chủ đầu tư, tính đầy đủ, hợp lệ của bộ hồ sơ trình duyệt theo quy định của Pháp luật.
Bên cạnh đó, cần thẩm định mục tiêu của dự án để xem xét tính phù hợp của dự án đối với các chương trình kinh tế địa phương, vùng, ngành, ngành nghề trong dự án có thuộc nhóm ngành được Pháp luật cho phép hoạt động hay ưu tiên. Trên cơ sở khung pháp lý điều tiết hoạt động đầu tư xây dựng, tuỳ theo từng loại dự án để kiểm tra và đánh giá tính pháp lý của dự án. Trong quá trình thực hiện nội dung này, với tư cách là bên tham gia tài trợ vốn, các TCTD cần lưu ý: 11 Kiểm tra việc chấp hành có đủ, có đúng với các qui định hiện hành của chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư: Rất nhiều trường hợp, những vấn đề được các bên chức năng đặt ra đối với dự án nhưng chủ đầu tư không tiếp thu để chỉnh sửa dự án, bỏ qua và vẫn tiếp tục triển khaidự án.