Chương I:KHÁI QUÁT VỀ ÂM HÁN VIỆT VÀ ÂM TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI 1.1 Khái niệm về âm Hán Việt 1.1 Từ Hán Việt Khái niệm từ: từ là do ngữ tố tạo thành, là đơn vị ngôn ngữ cao hơn ngữ tố một bậc. Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có thể độc lập lợi dụng. “Độc lập lợi dụng” tức là có thể độc lập tạo thành câu hoặc sử dụng độc lập (đảm nhiệm vai trò thành phần cú pháp hoặc vai trò ngữ pháp.)[14] Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn từ cuối đời Đường (thế kỉ VIII – thế kỉ X) trở về sau, được người Việt đọc âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình. Cách đọc đó được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay.
Ví dụ: trà, mã, trọng, khinh, vượng, cận, nam, nữ. Bên cạnh đó, những từ do người Việt tạo ra nhưng sử dụng yếu tố cấu tạo có nguồn gốc Hán thì cũng được gọi là từ Hán Việt. Chẳng hạn: y sĩ, đặc công, công an, thúc bách, đại đội, tiểu đoàn, thiếu tá, hao mòn, ca hát, hiểm nghèo, thanh vắng, ca ngợi, người bệnh, tàu thuỷ, tàu hoả, cướp đoạt. Tên gọi "từ Hán Việt" còn bao gồm cả những từ vốn không phải là gốc Hán, mà do người Hán mượn một ngôn ngữ khác, rồi người Việt vay mượn lại và đọc theo âm Hán Việt như các từ Hán Việt khác.
Ví dụ, có những từ vốn xuất thân nguồn gốc Nhật Bản như: trường hợp, nghĩa vụ, phục tùng, phục vụ, điều chế, đại bản doanh, kinh tế, thủ tục, biện chứng, khái quát, mĩ thuật, cộng hoà. Có những từ lại vốn xuất thân từ nguồn gốc Phạn (Sanskrit) như Phật, Niết Bàn, Di lặc, Thích ca mâu ni. Có từ lại vốn thuộc nguồn gốc châu Âu như: câu lạc bộ, Anh Cát Lợi, Mạc Tư Khoa. Do không có chữ viết riêng (theo truyền thuyết thì người Việt cổ có chữ viết riêng nhưng bị người Hán hủy bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn) trước khi chữ quốc ngữ ra đời, người Việt phải dùng chữ Hán để viết nhưng họ đọc theo âm Việt (chữ Nôm cũng dựa vào chữ Hán nhưng phức tạp hơn và chưa được chuẩn hóa nên cũng không được phổ cập).
Cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, từ Hán-Việt ngày nay được ghi bằng ký tự Latinh [13].2 Âm Hán-Việt Khái niệm âm tiết :Chuỗi lời nói mà con người phát ra gồm nhiều khúc đoạn dài ngắn khác nhau. Đơn vị phát âm ngắn nhất là âm tiết (syllable). Về phương diện phát âm, âm tiết có tính chất toàn vẹn, không thể phân chia được là bởi nó được phát âm bằng một đợt căng của cơ thịt của bộ máy phát âm. Âm Hán Việt là cách thức đọc tiếng Hán theo âm tiếng Hán thời nhà Đường qua đường sách vở, được những người Việt sử dụng chữ Hán đặt ra, Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt vào thời kỳ đó.
Theo Henri Maspéro, Benhard Kalgren, Torosu Mineyra, âm Hán-Việt đại diện cho phương ngữ Tràng An thế kỷ IX-X, vào thời kỳ cuối Đường. Đây là giai đoạn hình thành cách đọc Hán-Việt có hệ thống. Cũng theo quan điểm này, những từ Hán được du nhập từ giai đoạn trước hay các từ Hán cổ không được đọc theo âm Hán-Việt (đời Đường) mà theo âm Hán cổ, và đã được Việt hóa tương đối. Ví dụ: 房: buồng (âm Hán cổ)/ phòng (âm Hán-Việt); 沈: chìm (âm Hán cổ)/ trầm (âm Hán-Việt).
Nhưng cách đọc Đường âm đó sau khi Việt Nam giành được độc lập, đã dần dần biến dạng đi, dưới tác động của quy luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu vực văn hóa Việt. Đây là cách đọc tạo thành hệ thống, nghĩa là trên lý thuyết có thể dùng đọc toàn bộ kho tàng các kí hiệu văn tự Hán, với khả năng gần như cách đọc của người Hán, nhưng đây lại là một cách đọc độc lập, chức năng riêng và cả lịch sử diễn biến của mình. Cách đọc Hán Việt là sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán, và nền văn tự Hán.2 Hệ thống phiên âm trong âm Hán Việt Âm (thanh mẫu), vần (vận mẫu) và thanh điệu của tiếng Hán-Việt.1 Phụ âm đầu Phụ âm đầu là bộ phận phụ khởi đầu của một âm tiết trừ đi phần vần và thanh điệu. Căn cứ vào vị trí cấu âm, phụ âm đầu được chia làm ba vị trí: loạt phụ âm môi, loạt phụ âm lưỡi và phụ âm tắc thanh hầu.
Loạt phụ âm môi: b, ph, v, m. Loạt phụ âm lưỡi: Loạt phụ âm đầu lưỡi: t, th, tr, s, đ, n, l, d. Loạt phụ âm mặt lưỡi: ch, x, gi, nh. Loạt phụ âm gốc lưỡi: k, (c, q), kh, ng, (ngh).
Phụ âm tắc thanh hầu: h.2 Vần Vần là bộ phận chủ yếu của âm tiết trừ đi thanh điệu, phụ âm đầu (nếu có). Căn cứ vào phương thức cấu tạo, chúng ta có thể chia vần ra làm các loạt như sau: Loạt vần không có âm cuối: i, y, (uy), ia, ê (uê), ư, ơ, a (oa, ua), u, ô, Ví dụ: 之 (chi), 美 (mĩ), 规 (quy), 地 (địa), 细 (tế), 税 (thuế), 四 (tứ), 初 (sơ), 个 (cá), 化 (hoá), 瓜 (qua), 夫 (phu), 古 (cổ), 儒 (nho). Loạt vần có âm cuối là bán nguyên âm: ai (oai, uai), ơi, ôi, ây, ưu, ao, iêu (yêu). Thuyết minh: i, y, o, u đứng sau các âm chính đều là bán nguyên âm cuối.
Loạt vần có phụ âm cuối m/p: am, ap, âm (im), ấp, iêm (yêm), iêp. Thuyết minh: m, p đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối. Loạt vần có phụ âm cuối n/t: an (oan, uan), ai (oat, uat), ân (ăn, uân), ât (ăt, uât), ôn, ôt, iên (yên, uyên), iêt (yêt, uyêt). Thuyết minh: n, t đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối.
Loạt vần có phụ âm cuối ng/c: ang, (oang, uang), ac, ăng (oăng), ăc (oăc, uăn), ung, uc, ưng, ưc, ong, oc, ông (uông), ôc (uôc). Thuyết minh: ng/c đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối. Loạt vần có phụ âm cuối nh/ch: inh (uynh), ich, anh (oanh), ach (oach, uach). Thuyết minh: ng/c đứng sau các âm chính đều là phụ âm cuối.3 Thanh điệu Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết.
Trong tiếng Hán trước đây có bốn thanh: bình 平, thượng 上, khứ 去, nhập 入; mỗi thanh có hai bậc là phù 浮 và trầm 沈 (hoặc thanh 清/trọc 浊; thượng 上/hạ 下; ngày nay thường gọi là âm 阴/dương 阳). Như vậy, tổng cộng có 8 thanh bậc: phù bình, trầm bình, phù thượng, trầm thượng, phù khứ, trầm khứ, phù nhập, trầm nhập. Lưu ý là âm tiếng Hán hiện đại (tiếng Hán phổ thông, dựa trên phương ngữ Bắc Kinh) chỉ có 4 thanh bậc: phù bình (tên thông dụng hiện nay là âm bình), trầm bình (tên thông dụng hiện nay là dương bình), thượng thanh và khứ thanh(không chia bậc). Tiếng Việt có 6 thanh điệu (biểu thị bằng: không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng), nhưng âm Hán-Việt lại quy về bốn thanh điệu và hai bậc của tiếng Hán vì dựa vào phiên thiết của âm tiếng Hán.[13] Thanh bình: Có hai bậc, phù và trầm.
Thanh bình bậc phù (phù bình hay âm bình) là những tiếng không dấu, tức thanh ngang. Thanh bình bậc trầm (trầm bình hay dương bình) là những tiếng có dấu huyền. Điều cần chú ý là các chữ thanh ngang bắt đầu bằng l, m, n, ng, nh, d, v đều thuộc "trầm bình" ("hạ bình") trong cách áp dụng phiên thiết (Lê Ngọc Trụ) như minh 明, nhân 人, vân 云, nếu không sẽ sai về bậc thanh. Điều này rất ít tác giả nhấn mạnh.
Thanh thượng: Có hai bậc, phù và trầm. Thanh thượng bậc phù (phù thượng) là những tiếng có dấu hỏi. Thanh thượng bậc trầm (trầm thượng) là những tiếng có dấu ngã. Thanh khứ: Có hai bậc, phù và trầm.
Thanh khứ bậc phù (phù khứ) là những tiếng có dấu sắc. Thanh khứ bậc trầm (trầm khứ) là những tiếng có dấu nặng. Thanh nhập: Có hai bậc, phù và trầm. Thanh nhập bậc phù (phù nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu sắc.
Thanh nhập bậc trầm (trầm nhập) là những tiếng có phụ âm cuối là p, t, ch, c và có dấu nặng.2 Âm Hán ngữ hiện đại 1.1 Vài nét khái quát về tiếng Hán Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ chính trên thế giới. Tiếng Hán thuộc họ Hán Tạng, là một ngôn ngữ quan trọng nhất trong ngữ hệ này. Ngoài Trung Quốc đại lục và Đài Loan, tiếng Hán còn phân bố ở Xinggapo, Malaixia…Số người biết tiếng Hán khoảng 1.4 tỷ người (khoảng 300 triệu người sử dụng làm ngôn ngữ thứ hai). Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ làm việc của Liên hợp quốc.
[13] Ngôn ngữ chuẩn của tiếng Hán chính được hình thành dần dần trên cơ sở quan thoại ở phương bắc mấy trăm năm qua. Âm chuẩn của nó là âm Bắc Kinh, nhưng không thể đồng nhất với tiếng Bắc Kinh, mà nó được hình thành do loại bỏ một số âm địa phương trong tiếng Bắc Kinh. Tiếng Hán chuẩn được gọi là tiếng phổ thông ở Trung Quốc đại lục, được gọi là Quốc ngữ ở Đài Loan, được gọi là tiếng Hoa ở Xingapo và Malaixia. Về mặt nghĩa rộng là chỉ ngôn ngữ của dân tộc Hán, nghĩa hẹp là chỉ tiếng phổ thông, ngoài ra các cách gọi như Quốc ngữ, Hoa ngữ, Trung văn.đều là chỉ tiếng Hán.
Không có gì nghi ngờ việc tiếng Hán là một loại ngôn ngữ có số người sử dụng nhiều nhất trên thế giới, có khoảng 1/7 dân số thế giới dùng Hán ngữ trong giao tiếp hàng ngày. Tiếng Hán cũng từng có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ, văn tự của các nước xung quanh. Ví dụ, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Việt Nam đều giữ lại một lượng lớn từ mượn gốc Hán và hệ thống văn tự gốc Hán. Tiếng Hán là một ngôn ngữ có thanh điệu, ranh giới giữa âm tiết và hình vị thường trùng nhau.
Quan hệ ngữ pháp giữa các từ được biểu thị bằng trật tự ngữ pháp và những hư từ. Người ta cho rằng tiếng Hán cũng đã từng trải qua thời kì không có thanh điệu. Sự tiếp xúc giữa tiếng Hán với tiếng các dân tộc trong nước và các nước láng giềng đã đưa vào tiếng Hán khá nhiều từ vay mượn gốc Nam Á (trong đó có tiếng Việt), Tày, Thái, Ấn Độ, Ba Tư, Mông Cổ, Nhật Bản…Tiếng Hán có khá nhiều phương ngữ.