MỞ ĐẦU I. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Việt Nam, đất nước chúng ta đang trở mình có những bước tiến mạnh mẽ trong những thập niên gần đây. Bên cạnh đó, Cơ sở hạ tầng giao thông ở Việt Nam cũng đã có những bước tiễn đáng ké tuy nhiên dé thu hụt sự đầu tư mạnh mẽ từ các công ty nước ngoai chúng ta cần cải thiện hệ thông cơ sở hạ tầng hơn nữa, tránh tình trạng ùn tắc, ngập lụt, rút ngăn thời gian vận chuyền. Mạng lưới giao thông của chúng ta, sau nhiều năm tập trung đầu tư đã từng bước đi vào hoàn chỉnh, chất lượng phục vụ cũng được tăng cường.
Tuy nhiên, để thỏa mãn yêu câu vận tải không ngừng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải nhanh chóng đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông chất lượng cao với hệ thống đường cao tốc, đường vành dai tại các đô thị lớn. và các công trình dịch vụ tong hợp phục vụ mạng lưới giao thông vận tải. Tâm nhìn 100 năm, để giải quyết bài toán phát triển hạ tầng giao thông trong tương lai, Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp trong đó tập trung vào giải quyết các yếu kém hạ tang hién tai va qui hoach, xay dung cac khung diéu kién áp dung tương ứng với tầm nhìn quy hoạch tương lại. Đi đôi với sự phát triển nguồn vốn cho đầu tư xây dựng CSHT là rất lớn, trong khi nguôn vốn Ngân sách nhà nước (NSNV) có giới hạn, không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu; bên cạnh đó GDP/dau người tăng, nguồn tài trợ theo hình thức hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho hạ tang GTVT sẽ bị cắt trong một vai năm tới và chuyển sang hình thức vay thương mại.
Đó là một thách thức lớn cho chúng ta. Thách thức cho sự quản lý dau tư, thách thức cho su sữ dụng nguồn vốn, thách thức cho việc tìm kiếm nguôn vốn. Dé giải quyết phần nào thách thức đó thì Dau tư theo hình thức BOT, BT nói riêng hay PPP nói chung là một giải pháp quan trọng để phát triển CSHT giao thông Việt Nam. Tuy nhiên, việc thu hút, kêu gọi vốn đầu tư theo hình thức PPP trong thời gian qua còn rất hạn chế và nhiều bất cập.
Thực tế cho thay nhiều dự án do Nhà nước đầu tu khi đánh giá hiệu quả đầu tư ở bước lập dự án thì hiệu quả nhưng thực tế sau khi triển khai thì thua lỗ. Nhiều dự án Nhà nước kêu gọi đầu tư PPP nhưng không có cơ chế rõ ràng, không tìm được điểm chung về lợi ích với nhà đầu tư nên trong quá trình lập, phê duyệt DA và dam phán thường that bại. Các tồn tại trên làm lãng phí thời gian và cơ hội phát triển CSHT giao thông của nước ta; làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cầu kinh tế, giải quyết van dé tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo. HA VĂN HÙNG_ 1570095 LUẬN VĂN THAC SĨ mm Nhận thức được sự cần thiết đó, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu của luận văn này là “YEU TÔ THÀNH CONG CUA DỰ ÁN CƠ SỞ HẠ TANG THEO HINH THUC ĐẦU TƯ PPP Ở VIỆT NAM”.
Đây là một vẫn đề then chốt, mang ý nghĩa quyết định cho việc đầu tư cơ sở hạ tang và xã hội hóa nguồn vốn đầu tư Dự án, đảm bảo sự thành công của Dự án trong suốt thời gian xây dựng và khai thác dự án. Mục tiêu nghiên cứu Mục đích của dé tai là làm sáng tỏ những van đề lý luận về đầu tu theo hình thức PPP; phân tích và đánh giá tình hình đầu tư theo hình thức PPP ở Việt Nam; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm dau tư theo hình thức PPP của những quốc gia phát triển đã có nhiều năm thực hiện PPP trên thế 2101 dé tim ra những ưu điểm và nhược điểm của hình thức đầu tư nay. Từ đó dé xuất một số giải pháp nhăm góp phan thu hút nha đầu tư và sử dụng hiệu qua vốn dau tư theo hình thức PPP Việt Nam. Xuất phát từ mục đích này, các kết quả cần đạt được của Luận Văn là: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư theo hình thức đầu tư PPP.
- Phân tích và đánh giá tình hình đầu tư theo hình thức PPP ở Việt Nam. - Phân tích hiệu quả đầu tư theo hình thức PPP của các nước phát triển. Trên cơ sở đó: - Đưa ra được các yếu tô thuận lời, khó khăn của hình thức PPP tại Việt Nam. - Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm giải quyết khó khăn thách thức.
Từ dé, Thu hút được nhà đầu tư. Pham vi nghiên cứu > Đối tượng nghiên cứu Các yếu tố thành công liên quan đến chỉ phí, tiễn độ, chất lượng, sự hai lòng của người sử dụng. dự án cơ sở hạ tầng đầu tư theo hình thức PPP ở Việt Nam. > Phạm vi nghiên cứu Các văn bản Chính phủ, Hợp đồng, Dự án cơ sở hạ tang đầu tu theo hình thức PPP ở Việt Nam, tập trung nghiên cứu thực tế đầu tư theo hình thức BOT, BT tron g lĩnh vực xây dung hạ tang giao thông ở Việt Nam.
> Thời gian nghiên cứu Các dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu này dự kiến thu thập trong thời gian từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 10 năm 2017. Các dữ liệu thu thập từ internet, bài báo, dự án đầu tư xây dựng cầu Thủ Thiêm 2 theo hình thức BT, tham khảo ý kiến. có thé được thu thập từ trước. > Pham vi không gian nghiên cứu: HA VĂN HÙNG_ 1570095 LUẬN VĂN THAC SĨ Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng tham khảo tất cả các dự án PPP trên khắp lãnh thé Việt Nam cũng như phỏng vấn chuyên gia trực tiếp hoặc gián tiếp trên khắp các tỉnh thành có thé.
> Tính chat, đặc trưng của đối tượng khảo sát. Các dự án thực hiện theo hình thức PPP ở Việt Nam còn hạn chế. Do đó việc thu thập số liệu, tiếp cận các chuyên gia sẽ gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, các chuyên gia tuy đã từng thực hiện dự án PPP nhưng chưa thật sự hiểu rõ đặc trưng của dự án, của từng hình thức PPP.
> Quan điểm phân tích trong nghiên cứu Tác giả đang đứng trên quan điểm của Nhà đầu tư đúng nghĩa và mong muốn của tác giả là làm sao tìm ra những yếu tố dé có thé thay đối, bố sung những ưu — khuyết điểm của hình thức đầu tư PPP, tạo ra giá tri thực sư để phát triển xã hội. HA VĂN HÙNG_ 1570095 LUẬN VĂN THAC SĨ CHƯƠNG 2: TỎNG QUAN I. Giới thiệu chung 1. PPP-— Quan Hệ Đối Tác Công Tư Theo 15/2015/NĐ-CP: “Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thâm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cầu ha tầng, cung cấp dịch vụ công.” Các hình thức PPP ở Việt Nam: BOT, BTO, BT, BOO, BLT, BTL, O&M Trong do: - B: BUILD = xây dựng O: OPERATE = Kinh doanh T: TRANSFER = Chuyén giao O: OWN = Sở hữu L: LEASE = Thué dich vu M: MANAGEMENT = Quan ly Hình 2.
1: So đồ thực hiện dự án PPP HA VĂN HÙNG_ 1570095 LUẬN VĂN THAC SĨ Ở Việt Nam hiện nay, loại Hợp đồng được ký kết pho bién nhat 1a Hop đồng BOT, BTO va BT. Nhìn chung, môi hình thức đâu tu đêu có những ưu va nhược điêm riêng. Chính vi vay, việc lựa chọn hình thức nào vẫn phải được quyết định dựa theo tính chất của từng dự án cụ thể, từng lĩnh vực hoạt động, phương thức thanh toán, yêu cầu của Nhà nước và quá trình đàm phán. So sánh hợp đồng BOT, BTO và BT: * Giống nhau: - Déu là một dạng của hình thức đối tác công tư.
- - Cơ sở pháp lý: Được quy định tại Nghị định 15/2015 - Chu thé ký kết hợp đồng: Một bên là co quan nhà nước có thâm quyền và một bên là Nhà đầu tư (có thé cùng với doanh nghiệp dự án). - - Đối tượng hợp đồng: Là các dự án xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ công được quy định tại Điều 4, Nghị định 15/2015. * Khác nhau: Tiêu chí Hợp đồng BOT Hợp đồng BTO Hợp đồng BT Nội dung Quy định vê quyên và | Quy định về quyên và | Quy định quyên hợp đồng nghĩa vụ các bên về xây | nghĩa vụ các bên về | và nghĩa vụ các dựng. kinh doanh và xây dung, chuyên giao bên vê xây dựng chuyên giao công trình và kinh doanh công và chuyên giao trình công trình.
Thời điểm Sau khi xây dựng xong Sau khi xây dựng Sau khi xây dựng chuyên giao công trình, Nhà đầu tư xong Nhà đầu tư xong, Nhà đầu tư công trình được quyên kinh doanh chuyền giao công trình chuyến giao công trong một thời hạn nhất cho Nhà nước trình cho Nhà định rồi mới bàn giao nước cho Nhà nước Cách khai Nhà đầu tư được chủ Nhà đâu tư được kinh Nhà đâu tư được thác lợi động hoàn toàn kinh doanh trên chính công thanh toán băng nhuận và doanh trên chính công trình đó để thu vốn và quỹ đất để thực quyền tự trình đó để thu vốn và lợi nhuận, tuy nhiên hiện Dự án khác chủ cúa Nhà lợi nhuận. Nhà nước chịu sự bảo hộ và giám đầu tư không can thiệp vào giai sát của Nhà nước. 1: So sánh hợp đồng BOT, BTO và BT. HA VĂN HÙNG_ 1570095 LUẬN VĂN THAC SĨ Trong thực tế, hình thức hợp đồng BOT được các Nhà đầu tư lựa chọn nhiều nhất.
Đầu tiên: có điều này là do quyền chủ động của Nhà đầu tư trong quá trình khai thác lợi nhuận từ công trình. Trong thời gian kinh doanh công trình, Nhà đầu tư được toàn quyền áp dụng các biện pháp thu hồi vốn và tìm kiếm lợi nhuận, không chịu sự áp đặt của Nhà nước. Với 2 hình thức BTO, BT thi sự phụ thuộc cua Nha đầu tư vào Nhà nước là lớn hơn. Ở hình thức BTO, việc khai thác công trình của Nhà đầu tư chịu sự quản lý cua Nhà nước, còn ở hình thức BT, Nhà đầu tư được Nhà nước thanh toán băng quỹ đất để thực hiện dự án khác.
Thứ hai: Nhà đầu tư khi đầu tư kinh doanh luôn phải tuần thủ luật pháp của Nhà nước, mà chính sách của Nhà nước thay đổi theo thời kỳ là hết sức bình thường.