Chương 1: Giới thiệu Nội dung chính của chương là giới thiệu tổng quát về nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa, những đóng góp của đề tài và cấu trúc luận văn được thực hiện trong những chương tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương này gồm hai nội dung chính: (i) Cơ sở lý luận thuyết chung về ngân hàng thương mại và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại; (ii) Tổng quan 4 các công trình nghiên cứu trước đây trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của VCB. Chương 3: Tổng quan và đề xuất mô hình nghiên cứu Chương này trình bày một cách tổng quát về thực trạng hoạt động kinh doanh tại VCB. Tiếp đó trình bày đề xuất về mô hình nghiên cứu, dữ liệu và các biến trong mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của VCB.
Chương 4: Kiểm định mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả Chương này tiến hành các bước để kiểm định mô hình đưa ra ở chương ba. Dùng mô hình hồi quy tuyến tính để tìm ra các biến có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của VCB. Sau đó phân tích và thảo luận các kết quả nhận được. Chương 5: Đề xuất các khuyến nghị Từ kết quả đạt được ở chương bốn, chương này đề xuất một số khuyến nghị liên quan đến các yếu tố đã tìm được ý nghĩa thống kê giúp gia tăng khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam trong thời gian tớii.
5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm và vai trò của ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16 tháng 06 năm 2010 của Quốc hội khóa XII, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, dù có nền kinh tế phát triển, đang phát triển hay chưa phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của NHTM được thể hiện như sau: Thứ nhất, NHTM có vai trò điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế. Thông qua chức năng huy động vốn và cho vay, các NHTM đã huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, cho vay dưới các hình thức khác nhau đối với các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Thứ hai, NHTM tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính. Với vai trò trung gian thanh toán, ngân hàng đã thực hiện các dịch vụ trung gian thanh toán cho nền kinh tế, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình thực hiện luân chuyển hàng hóa, luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân trong doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời NHTM cũng giám sát các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo ra sự ổn định trong kinh tế – xã hội 6 Thứ ba, NHTM cùng với Ngân hàng Trung Ương (NHTW) thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Với chức năng tạo tiền, NHTM là một trong những chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế.
NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả. Để thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng tiền lưu thông, nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Phần lớn các công cụ chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực từ các NHTM cũng như việc chấp hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Với chức năng luân chuyển vốn trong nền kinh tế và cung cấp dịch vụ, NHTM có ba hoạt động nghiệp vụ cơ bản là nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian. Nghiệp vụ nguồn vốn là nghiệp vụ góp phần hình thành nên nguồn vốn hoạt động của NHTM.
Nghiệp vụ nguồn vốn của NHTM bao gồm: nghiệp vụ vốn chủ sở hữu, nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ hình thành nguồn vốn khác. Trong đó hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng nhất. Huy động vốn là hình thức nhận tiền dưới nhiều hình thức theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng của NHTM nhằm giải quyết đầu vào, đảm bảo nguồn vốn để cho vay và phục vụ hoạt động thanh toán.
Ngân hàng có thể huy động vốn với nhiều phương thức khác nhau như: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; vay vốn của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài; vay vốn ngắn hạn ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn. Nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế đồng thời mang lại thu 7 nhập cho NHTM. Nghiệp vụ sử dụng vốn của NHTM bao gồm: - Đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm tài sản; - Thiết lập dự trữ; - Nghiệp vụ cấp tín dụng: cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán, thấu chi tài khoản tiền gửi thanh toán, cho thuê tài chính … - Nghiệp vụ đầu tư: góp vốn với các tổ chức tài chính khác, mua cổ phần các ngân hàng hoặc công ty khác, đầu tư vào giấy tờ có giá … Nghiệp vụ trung gian: NHTM với tư cách là một đơn vị trung gian thực hiện thay cho khách hàng một số công việc theo sự ủy nhiệm của khách hàng để được hưởng phí dịch vụ như dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ ủy thác, đại lý … 2.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2.1 Định nghĩa khả năng sinh lời Lợi nhuận là vấn đề được quan tâm hàng đầu, là mục tiêu kinh doanh chính của các NHTM. Tuy nhiên lợi nhuận chỉ là một con số tuyệt đối, nên nó không thể hiện đầy đủ sự thay đổi trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng, cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ tương quan với các chỉ tiêu như nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí ….
Hay nói cách khác để đánh giá hiệu quả hoạt động của một NHTM, chúng ta có thể dựa vào các chỉ số thể hiện khả năng sinh lời. Theo Harward và Upton (1961) phát biểu rằng : “Khả năng sinh lời là khả năng của một sự đầu tư nhất định có thể tạo ra lợi nhuận”. Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu.
Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Như vậy, khả năng sinh lời phản ánh mức độ tạo ra lợi nhuận từ việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng, từ tài sản vật chất đến tài sản tài chính, hay gọi chung 8 là vốn kinh tế mà ngân hàng đang nắm giữ để tạo ra lợi nhuận.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Thông thường khả năng sinh lời được đo lường thông qua các chỉ số tài chính như Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA – Return on assets), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on equity) hoặc Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM - Net Interest Margin). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) ROA là chỉ số thể hiện tương quan giữa lợi nhuận được tạo ra của một doanh nghiệp so với tài sản của của doanh nghiệp đó.
Chỉ số này cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính ROA như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = (2.1) Tổng tài sản ROA được sử dụng rất phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng. ROA càng cao thể hiện doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng tài sản tốt, cơ cấu tài sản hợp lý.
ROA thấp cho thấy có thể cơ cấu tài sản chưa hợp lý, các chính sách đầu tư hay cho vay chưa hiệu quả hoặc chi phí hoạt động của ngân hàng quá cao.