Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 1. Khung nghiên cứu của luận văn Mục tiêu nghiên cứu Cơ sở lý thuyết Phương pháp nghiên cứu Phương pháp định tính Phương pháp định lượng - Phân tích các vấn đề liên quan đến hiệu Ước lượng và đo lường mức độ tác quả kinh doanh của ngân hàng động của các nhân tô đên hiệu quả - Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây kinh doanh của ngân hàng Indovina Kết quả nghiên cứu Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh Hình 1. 1: Khung nghiên cứu của luận văn CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH VA CAC YEU TO ANH HUONG DEN HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH 2. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Theo (Quốc hội, 2010), ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) - Luật số: 47/2010/QH12, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Các ngân hàng thương mại được phân biệt với các tổ chức tài chính khác chủ yếu bằng cách chấp nhận tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi cung cấp cho họ tiền nhưng trách nhiệm của họ đối với tính thanh khoản và an toàn của tiền gửi làm hạn chế việc sử dụng các khoản tiền này. Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. Theo Rose (2002), trong nên kinh tế hiện dai ngày nay, NHTM với các vai trò ngày càng lớn nhằm duy trì, củng cố và thu hút thêm nhiều khách hàng dé tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày phong phú và đa dạng của các đối tượng khách hàng khác nhau. Chính vì vậy, các sản phâm và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng ngày càng mới và đa dạng dựa trên sự phát triển của công nghệ hiện đại, tiên tiến, hỗ trợ khách hàng tối đa trong việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.2 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại NHTM là loại hình tổ chức tài chính được phép hoạt động kinh doanh đa dạng nhất trên thị trường tài chính bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và đầu tư và các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính khác như dịch vụ thanh toán, tư vấn tài chính, quản lý hộ tải sản, kinh doanh ngoại tệ. Hoạt động huy động vốn Khác với các doanh nghiệp phi tài chính, nguồn vốn chủ sở hữu của các NHTM chiếm rất nhỏ trong tông nguồn vốn, do đó để đảm bảo cho hoạt động của mình công tác quan trọng đầu tiên của các NHTM đó chính là hoạt động huy động vốn.
Công tác huy động vốn bao gồm: huy động vốn tiền gửi và huy động vốn phi tiền gửi. Các NHTM huy động các nguồn vốn nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh thông qua các nghiệp vụ: tiết kiệm, tiền gửi từ các thành phần dân cư, tiền gửi giao dịch, phát hành giấy tờ có giá, đi vay trên thị trường tiền tệ, vay Ngân hàng Nhà nước. Nghiệp vụ huy động vốn mang lại nguồn vốn cho NH thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, NHTM sẽ không có đủ vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thê đo lường được sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng 1 kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm sinh lời đồng tiền của họ, tạo cơ hội gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Hơn nữa gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn đề cất trữ và tích lãy vốn tạm thời nhàn rỗi. Giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng (dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng) khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần khi tiêu dùng.
Hoạt động cấp tín dụng Theo Quốc hội (2010), “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoản trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong đó, cho vay là một hình thức cấp tín dụng của các NHTM và được định nghĩa là “hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Nguồn vốn NHTM huy động được chủ yếu được đem cho vay và tái đầu tư trở lại nền kinh tế. Ngay từ thời kỳ sơ khai của các NHTM, nghiệp vụ tín dụng đã được coi là một hoạt động quan trọng bậc nhất đối với su ton tai va phat triển của mỗi ngân hàng, cũng như đem lại hiệu quả to lớn cho xã hội.
Các sản phẩm gắn liền với hoạt động tín dụng bao gồm: cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống: cho vay trung dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh; đầu tư vào giấy tờ có giá; góp vốn liên doanh liên ket. Hoạt động thanh toán Thanh toán qua ngân hàng là quan hệ thanh toán được thực hiện và tiến hành bằng cách trích và chuyên một số tiền trên tài khoản của cá nhân, hoặc tổ chức này sang tài khoản của cá nhân, tổ chức khác hoặc bùủ trừ lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng. Ngân hàng là người cung ứng dịch vụ thanh toán. Nếu việc thanh toán diễn ra trong phạm vi một quốc gia thì được gọi là thanh toán trong nước, nếu việc thanh toán diễn ra vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia, được gọi là thanh toán quốc tế.
Thanh toán qua ngân hàng là thanh toán chuyển khoản, diễn ra thông qua việc ghi tăng hay giảm tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân liên quan tại ngân hàng. Vì vậy, thanh toán qua ngân hàng không có sự xuất hiện của tiền mặt và tiền chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền ghi số, được ghi chép trên các chứng từ, số sách kế toán và được gọi là tiền chuyển khoản. Khi thực hiện thanh toán, ngân hàng đóng vai trò là trung gian giữa người có nghĩa vụ thanh toán và người thụ hưởng. Khi nhận được yêu cầu thanh toán, ngân hàng tiến hành kiểm tra các điều kiện thanh toán.
Nếu yêu cầu thanh toán thỏa mãn các điều kiện, ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán cho khách hàng. Ngược lại, khi yêu cầu thanh toán không thỏa mãn các điều kiện thì ngân hàng có thê từ chối thực hiện. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ Kinh doanh ngoại tệ bao gồm việc mua bán ngoại tệ đảm bảo số dư tài khoản kinh doanh ngoại hối, nguồn ngoại tệ và tìm cách thu lời qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau. Hay nói một cách đơn giản kinh doanh ngoại tệ chỉ đơn thuần là việc mua bán số dư trên tài khoản bằng ngoại tệ.
Kinh doanh ngoại tệ hay cụ thé hon là mua bán ngoại tệ ra đời và phát triển theo sát sự đòi hỏi của hoạt động thương mại quốc tế. Đối với ngân hàng tuy hoạt động mua bán ngoại tệ không phải là hoạt động truyền thống nhưng việc thành lập một bộ phận chuyên trách về kinh doanh ngoại tệ trở nên rất cần thiết: Trước hết đây là hoạt động dịch vụ dé dam bảo chắc chắn việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng của ngân hàng giữa các nước được thực hiện trôi chảy. Tăng qui mô của ngân hàng thông qua việc thúc đây mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu. Phát triển các hình thức kinh doanh khác như thanh toán quốc tế, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác.
Dem lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng thông qua các nghiệp vụ mua bán trên thị trường ngoại hối, tăng cường sức mạnh và khả năng phòng chống rủi ro do biến động tỷ giá và cả khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nền kinh tế. Các hoạt động khác Trong nền kinh tế hiện đại, yêu cầu về các sản phẩm tài chính ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều hơn sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường từ các tô chức tài chính phi ngân hàng, các ngân hàng thương mại. Do vậy, xuất hiện một xu hướng đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng một cách tốt nhất, đang dạng hoá các sản phâm dịch vụ ngân hàng, tiễn tới giảm dần sự phụ thuộc 10 thu nhập của ngân hàng vảo thu nhập từ hoạt động tín dụng.
Dịch vụ ngân hàng khác bao gồm: dịch vụ thẻ, dịch vụ kinh doanh vàng, dịch vụ môi giới, bảo lãnh, tư vấn tài chính. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh 2. Quan điểm về hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh hiểu theo mục đích cuối cùng thì đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chỉ phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tô chức sản xuất và quản ly của mỗi doanh nghiệp, đồng thời với đó là sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý.