chương 1 đã giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu cũng như đối tượng và thời gian nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa của nghiên cứu. Đó là tiền đề để làm rõ, chỉ tiết và cụ thể hơn cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng sẽ được trình bày chỉ tiết ở các chương sau. 9 CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2.1 Tổng quan về tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng thương mai 2.1 Khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn Ủy ban Basel về Giám sát Ngânn hàng, đã ban hành Hiệp định vốn Basel vào năm 1988 và có hiệu lực vào năm 1992, công bố các tiêu chuẩn và hướng dẫn giám sát rộng rãi để củng có sự ôn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế. Thiết lập hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm thiểu sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
Hệ thống đưa ra khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%, nghĩa là ngân hàng phải giữ lại vốn bằng ít nhất 8% rồ tài sản, được tính toán theo nhiều phương pháp và tùy theo mức độ rủi ro. Theo Khoản 1 Điều 9 thông tư số 22/2019/TT-NHNN thì “Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này”. Tý lệ an toàn vốn là tỷ lệ bảo vệ ngân hàng khỏi mắt khả năng thanh toán và giúp ngân hàng thoát khỏi khó khăn.
Được định nghĩa là tỷ lệ vốn ngân hàng so với nợ ngắn hạn và tài sản có rủi ro (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Tài sản có rủi ro là thước đo tài sản của ngân hàng, được điều chỉnh theo rủi ro. Mức đảm bảo vốn phù hợp đám bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để mở rộng kinh doanh, trong khi giá trị ròng của ngân hàng đủ đề đối pho voi bat kỳ suy thoái kinh tế nào mà không bị mất khả năng thanh toán. Đây là tỷ lệ xác định khả năng đáp ứng các khoản nợ của ngân hàng và các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, v.
Tỷ lệ này do ngân hàng trung ương quyết định và được điều chỉnh bởi từng ngân hàng thương 10 mại để ngăn chặn việc sử dụng tỷ lệ đòn bây vượt ngưỡng an toàn dẫn đến nguy cơ phá sản (Phan Thị Thu Hà, 2013). Tóm lại, trong nghiên cứu này, tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại cỗ phần được hiểu là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có và tài sản có điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng thương mại, một chỉ tiêu quan trọng đề phản ánh năng lực của một ngân hàng về khả năng thanh toán.2 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), tỷ lệ an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, xu hướng quốc tế hóa kinh tế hiện nay. Tỷ lệ an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của một ngân hàng, đặc biệt là hoạt động cho vay. Tý lệ an toàn vốn có ý nghĩa tương tự như tỷ lệ đòn bẩy hoạt động.
Tỷ lệ này giúp đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự bảo vệ từ nguồn vốn tự có của mình và đánh giá kha nang thích ứng của ngân hàng đối với rủi ro tín dụng và hoạt động. Dựa vào hệ số này cũng giúp tạo ra sự công bằng khi đánh giá rủi ro giữa các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng trung ương thường quy định tỷ lệ an toàn vốn tối đa để bảo vệ người gửi tiền, người cho vay và qua đó giúp đám bảo hệ thống tài chính hoạt động an toàn. Một hệ thống ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn ở mức an toàn sẽ giúp toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như hệ thống tài chính của một quốc gia hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia.
Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn còn là công cụ để NHNN kiểm tra, giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, kiểm tra xem mức vốn thực tế có đảm bảo so với quy định hoặc đã đăng ký với ngân hàng nhà nước hay không khi thành lập ngân hàng, kiểm tra tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trích lập dự phòng theo quy định, hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại. Vì vậy, nếu ngân hàng không tuân 11 thủ các quy định về hệ số sẽ rơi vào tình trạng mat khả năng thanh toán dẫn đến phá sản, có thể gây nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của mỗi quốc gia (Phan Thị Thu Hà, 2013). Tỷ lệ an toàn vốn được sử dụng như một chỉ tiêu để ngân hàng và nhà đầu tư nhận biết mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng, tỷ lệ này thường được sử dụng để cảnh báo cho người gửi tiền về rủi ro của ngân hàng cũng như nhằm tăng tính ồn định và hiệu quả của hệ thống ngân hàng thương mại. Trên thực tế, một khi ngân hàng có tý lệ an toàn vốn thỏa đáng, nó có thể giúp ngân hàng chống lại các cuộc khủng hoảng tài chính và bất ôn kinh tế.
« Đối với ngân hàng thương mại: Ty lệ an toàn vốn là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng, nó thể hiện khả năng chống chịu của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. Thực tế cho thấy, khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn này, ngân hàng đã có được khả năng chống chọi với các cú sốc tài chính, vừa bảo vệ chính mình, vừa bảo vệ khách hàng. « Đối với nhà đầu tư: Tỷ lệ an toàn vốn được dùng làm chỉ tiêu để nhà đầu tư nhận biết mức độ rủi ro của từng ngân hàng. Tỷ lệ này thường được sử dụng để phát tín hiệu cho người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và cũng nhằm mục đích tăng tính ôn định và hiệu quả của hệ thống ngân hàng thương mại.
Với tỷ lệ an toàn vốn, nhà đầu tư có thể xác định được khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và rủi ro của ngân hàng. - Đối với NHNN: Ty lệ an toàn vốn được NHNN sử dụng như một công cụ giám sát vốn khi quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiêu trong từng thời kỳ để các NHTM tuân thủ theo quy định, đảm bảo khả năng thanh toán và giảm khả năng phá sản của NHTM. Đo lường hệ số an toàn vốn 2.1 Theo hiệp ước Basel I Năm 1988, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng đã ban hành một hệ thống đo lường rủi ro tín dụng và vốn được gọi là hiệp ước Basel I. Theo yêu cầu của Basel I, các ngân hàng được yêu cầu duy trì tỷ lệ vốn trên vốn bắt buộc trên tổng tài sản điều chỉnh rủi ro (CAR) ở mức 8%.
Basel I cũng đưa ra định nghĩa về các loại vốn của ngân hàng và chia thành 3 cấp độ theo khả năng chủ động, từ đó đánh giá độ tin cậy trong việc sử dụng các nguồn vốn để ứng phó với rủi ro từ cấp độ I cao nhất, cấp thấp nhất là cấp 3. Do vốn cấp 3 có độ tin cậy thấp nhất nên vốn này không được tính đến khi xác định tỷ lệ an toàn von. Basel I phan loai tai san theo bốn loại rủi ro khác nhau: 0%, 20%, 50% và 100%. Do đó, các quy định đo lường của Basel I mang tính tương đối vì mức độ rủi ro của tài sản chỉ dựa trên tài sản đảm bảo và nhóm khách hàng chứ không dựa trên quy mô khoản vay, thời hạn vay và mức tín dụng.
của khách hàng. Ngoài ra, Basel I chi tinh đến rủi ro tín dụng chứ không tính đến rủi ro hoạt động và thị trường.2 Theo hiệp wéc Basel IT Do những hạn chế của Basel I, năm 2004 Ủy ban Basel đưa ra phiên bản mới là Basel II có hiệu lực từ năm 2007 và kết thúc chuyên đổi sang năm 2010. Nội dung của Basel II bao gồm 3 trụ cột chính: trụ cột thứ nhất liên quan đến việc duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc và cột thứ hai, thứ ba liên quan đến quy trình kiểm tra, giám sát và công bố thông tin. Theo trụ cột 1, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8%, nhưng mẫu số để tinh CAR da thay đổi đáng kế: hệ số rủi ro của tài sản không chỉ phụ thuộc vào tài sản đảm bảo và nhóm khách hàng mà còn phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm với rủi ro trong từng loại hình và mức độ tín nhiệm của từng khách hàng.
Hệ số này được mở rộng từ 0 đến 100% trong Basel I thành 0 đến 150% trong Basel II. Ngoài ra, mẫu số của CAR không chỉ bao gồm tổng tài sản có điều chỉnh theo rủi ro mà còn 13 gấp 12,5 lần tổng vốn quy định cho dự phòng rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Việc triển khai Basel II giúp các ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh hơn nhờ tăng cường quản trị rủi ro, các biện pháp quản trị rủi ro, đặc biệt là mô hình rủi ro và xếp hạng nội bộ được chủ động áp dụng đồng vốn được quản lý hiệu quả hơn. Trong lĩnh vực tín dụng, các ngân hàng thương mại sẽ phải tập trung vào việc đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản thé chấp.
Ngoài ra, sau khi áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn và thanh khoản, ngân hàng cần thu hút thêm các nhà đầu tư nước ngoài, bởi ngân hàng hoạt động trong môi trường đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.3 Theo hiệp ước Basel IIT Mặc dù đã có nhiều cải tiến trên Basel I nhưng các tiêu chuẩn của Basel II vẫn chưa đủ mạnh để giúp các ngân hàng chống chọi và vượt qua rủi ro. Ngày 12 tháng 9 năm 2010, Ủy ban Basel đã đưa ra bộ tiêu chuẩn về an toàn vốn có tên là Basel II. Bộ tiêu chuẩn này có hiệu lực từ năm 2013 và kết thúc vào năm 2019.