Chương 1: Giới thiệu Xác định vấn đề nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; câu hỏinghiên cứu; phạm vi; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn, bố cục luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp 8 Trình bày các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các lý thuyết, nghiên cứu liên quan và thực tiễn về tính tuân thủ thuế nói chung và thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng. Chương 3: Dữ liệu, phương pháp và mô hình nghiên cứu. Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, xác định kích thước mẫu, phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày các kết quả rút ra từ nghiên cứu như thống kê mô tả dữ liệu thu thập được, tiến hành đánh giá và kiểm định thang đo, kiểm định sự phù hợp của mô hình, và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Các kết luận và hàm ý quản trị Trình bày kết luận và gợi ý giải pháp, hàm ý quản trị nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế thu nhập 9 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP Trong chương 2 tác giả tập trung giới thiệu về các khái niệm về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Tác giả trình bày các khung lý thuyết nền tảng chính được sử dụng trong bài và cuối cùng là lược khảo các nghiên cứu về các yếu tố tác động lên hành vi tuân thủ thuế 2.1 Khái niệm về hành vi tuân thủ thuế Hành vi tuân thủ thuế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, từ những khái niệm chung đến cụ thể, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng.
Theo Hamm (1995), TTT được xác định theo cách sau: “Người nộp thuế khai báo hồ sơ khai thuế cần thiết tại thời điểm thích hợp và thực hiện chính xác nghĩa vụ thuế theo quy định của các luật thuế, các quyết định của tòa án”. Còn James & Alley (1999): “TTT theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế” Theo OECD (2004) thì TTT được xét theo phạm vi nghĩa vụ của người nộp thuế. Nhìn chung, TTT được xác định dựa trên 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) Khai báo đúng hạn; (2) Khai báo chính xác; (3) Thực hiện nghĩa vụ đúng hạn Khái niệm TTT vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục tranh luận theo hướng nghiên cứu tính tự nguyện hay không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế. Quan điểm nghiên cứu hiện nay tập trung chủ yếu vào tính tự nguyện của việc chấp hành nghĩa vụ thuế.
James & Alley (1999) đặt ra câu hỏi: Sự “tuân thủ” có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp hành chính, hoặc do cả hai, thì điều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt đến 100% so với mức phải nộp theo luật định. Andreoni và cộng sự (1998) cho rằng sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần dùng đến các hình thức kiểm tra, thẩm tra, nhắc nhở hoặc lo sợ bị áp dụng các biện pháp hành chính cũng là một thành phần trong định nghĩa về TTT của người nộp. Theo tác giả, trong định nghĩa về TTT nên đưa yếu tố thời gian vào như là một tiêu chí thể hiện sự tuân thủ tự nguyện. Một DN cuối cùng cũng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế nhưng 10 nếu nghĩa vụ thuế đó được thanh toán muộn thì cũng không phải sự tuân thủ hoàn toàn.
Và ngay cả khi lãi suất nộp muộn bị tính thì khoản thu đó cũng không phải là sự tuân thủ hoàn toàn tự nguyện. Vì vậy trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa TTT theo OECD (2004): “Sự TTT của Doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. Tuân thủ đúng các quy định về chính sách thuế, về quản lý thuế, các nghĩa vụ thuế và các quy định về thuế. Việc không tuân thủ sẽ xảy ra khi một trong các yếu tố nêu trên không được đáp ứng, bất kể lý do gì.2 Các lý thuyết nền Các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã giải thích về cách cải thiện việc tuân thủ thuế.
Điều này cho thấy cần phải nâng cao mức độ tuân thủ của người nộp thuế. Theo Devos (2014), thì hầu hết các công trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu việc tuân thủ thuế đã không đạt được sự đồng thuận do cách tiếp cận được sử dụng bởi các nhóm nghiên cứu khác nhau. Hầu hết các cá nhân và doanh nghiệp sẽ không nộp thuế trừ khi có điều gì đó thúc đẩy họ làm. Theo (Feld & Frey, 2007), họ cho rằng động lực tốt nhất là tăng cường khuyến khích, trong khi những người khác tin rằng có thể đạt được hành vi tuân thủ thông qua việc tăng tiền phạt.
Các lý thuyết về tuân thủ thuế có thể được phân thành các lý thuyết sau: các lý thuyết dựa trên các học thuyết kinh tế và các lý thuyết dựa trên tâm lý và tài khóa và thêm vào đó là khuôn khổ thực nghiệm. Hầu hết các lý thuyết về tuân thủ đều tập trung vào thái độ và mối quan hệ giữa chính phủ và người nộp thuế. Lý thuyết dựa trên các học thuyết kinh tế (Economic Based Theory): Lý thuyết dựa trên các học thuyết kinh tế đã được đưa ra bởi các công trình của Becker (1968) và được phát triển trong một khoảng thời gian nhiều năm với các nhà nghiên cứu khác nhau nhằm xem xét các biến số và thách thức các kết quả do những người nghiên cứu đi trước đưa ra. Theo Becker, ông đã xem lý thuyết kinh tế dưới góc độ lý thuyết trong mối quan hệ với tội phạm học.
Điều này quy định rằng các cá nhân được thúc đẩy bởi tư lợi thuần túy. Lý thuyết dựa 11 trên các học thuyết kinh tế hoặc lý thuyết răn đe có nghĩa là có các yếu tố ngăn cản các cá nhân đạt được mức độ tuân thủ đầy đủ do một số yếu tố ẩn chứa chẳng hạn như hiệu ứng chi phí, lợi ích của cùng một vấn đề tuân thủ hay không tuân thủ. Các công trình của Becker đã bị thách thức bởi các công trình của Allingham và Sandmo (1972) khi cho rằng người nộp thuế thường muốn tối đa hóa lợi nhuận của họ. Lý thuyết dựa trên các học thuyết kinh tế còn được gọi là lý thuyết răn đe nhấn mạnh vào phần thưởng và động lực thu được từ quá trình tuân thủ.
Lý thuyết dựa trên các học thuyết kinh tế về cơ bản nhấn mạnh vào các yếu tố kinh tế như chi phí phát sinh, xác suất phát hiện và trừng phạt mà một cá nhân hay doanh nghiệp có thể nhận được do không tuân thủ một số quy định. Mục tiêu cốt lõi của hầu hết các nhà kinh doanh là phải chịu ít chi phí hơn và trong trường hợp ít bị phát hiện và hoặc số tiền phạt mà họ có thể trả khi bị phát hiện ít hơn, khi ấy họ có xu hướng xem nhẹ khía cạnh tuân thủ. Họ thích chơi trò chơi kiểm toán (Trivedi và Shehata, 2005), do đó người nộp thuế thường điều chỉnh lợi nhuận khi nộp hồ sơ khai thuế cho phù hợp với họ. Vì vậy, cách tốt nhất để ngăn chặn sự răn đe là tăng tiền phạt khi người nộp thuế được xác định các hành vi bỏ sót, sai phạm, kê khai không trung thực.
Theo Yitzhaki (1974), thái độ và các khía cạnh hành vi của người đóng thuế đối với rủi ro ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ theo mức độ sợ rủi ro. Do đó, có nhiều ý kiến khác nhau về những gì thực sự nên làm để cải thiện mức độ tuân thủ ở các công ty quy mô nhỏ, nghiên cứu này sẽ hữu ích trong việc xác định thêm điều gì thực sự có thể giải quyết lỗ hổng trong các lý thuyết khác nhau và tăng khoảng cách kiến thức về tính tuân thủ thuế. Lý thuyết liên kết với các nghiên cứu hiện tại ở chỗ mặc dù có kiến thức về các hình phạt và tiền phạt cũng như thái độ của người nộp thuế đối với rủi ro, mức độ tuân thủ của các thương nhân nhỏ vẫn chưa được cải thiện. Điều này là do hầu hết những người trong nhóm này không nằm trong khung thuế.
Kiến thức về cách tiền phạt và hình phạt ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ của họ thực sự sẽ rất quan trọng trong việc hiểu mức độ tuân thủ của họ. Một chi phí tuân thủ khi nộp hồ sơ khai thuế, (Slemrod, 1989) ghi nhận một điểm yếu liên quan đến lý thuyết là nó không có khả năng xử lý các mặt hàng với các tình 12 huống khác nhau của người nộp thuế. Các nghiên cứu khác đề xuất một hệ thống bao gồm cả các biện pháp trừng phạt và thuyết phục có thể chống lại vấn đề răn đe và do đó cải thiện mức độ tuân thủ.2 Các lý thuyết tâm lý và tài khóa (Fiscal and Psychological Theories) Lý thuyết này đã được công nhận bởi các công trình nghiên cứu của (Schmolders, 1959) dựa trên giả định rằng người nộp thuế xem mọi thứ vì lợi ích cá nhân hơn là lợi ích chung. Ông kết luận rằng các hành vi phản ánh các tín ngưỡng văn hóa khác nhau.
Ngoài tài khóa và tâm lý, nó đề cập đến thái độ, niềm tin và các chuẩn mực xã hội. Tóm lại, có thể lưu ý rằng lý thuyết về cơ bản tập trung vào hành vi của con người là phi lý. Do đó, Schmolders lưu ý rằng người nộp thuế nhìn nhận những thứ khác nhau tùy thuộc vào tâm lý tuân thủ thuế. Ý tưởng này đã được phát triển bởi (Strumpel, 1969), kết quả khẳng định rằng sự áp dụng cứng nhắc các đánh giá do cơ quan thuế ban hành có thể làm giảm sự tuân thủ về thuế, trong khi (Kinsey, 1986) coi đó là sự sẵn sàng hợp tác thuần túy làm tăng mức độ tuân thủ một cách tích cực.
Sự kết hợp của các biến số khác nhau của hành vi con người với nhận thức và giáo dục có thể ảnh hưởng tích cực đến mức độ tuân thủ. Yếu tố như lợi nhuận trên các khoản thuế đã nộp ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ của người nộp thuế (Spicer, 1974) cho rằng trong hầu hết các trường hợp, người nộp thuế có xu hướng xem các khoản thuế đã nộp mang lại lợi ích như thế nào cho công chúng hoặc đã được chính phủ sử dụng như thế nào.