CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước liên quan 1. Các nghiên cứu ngoài nước Bernadette Kamleitner, Christian Korunka và Erich Kirchler (2012) nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế của các chủ các doanh nghiệp nhỏ dưới góc độ tâm lý học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chủ các doanh nghiệp nhỏ có khả năng nhận thấy nhiều cơ hội không tuân thủ hơn người nộp thuế là các cá nhân. Đồng thời các chủ doanh nghiệp nhỏ có hiểu biết về thuế không đầy đủ, và có cảm nhận mức thiệt hại lớn hơn đối với các khoản thuế phải nộp so với NNT khác.
Adane Agegn (2020) kiểm tra hành vi trốn thuế của DNNVV ở thành phố Bahir Dar năm 2019. Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự răn đe, hiệu lực của chính phủ, thái độ và kiến thức thuế là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến hành vi trốn thuế và có ý nghĩa thống kê. Felix Naah (2018) tìm hiểu hành vi tuân thủ thuế và đo lường nhận thức của NNT, đồng thời đánh giá các yếu tố thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế tự nguyện giữa các DNNVV ở Ghana. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi tuân thủ thuế của các DNNVV được biểu hiện qua chất lượng báo cáo thuế, nộp hồ sơ và thanh toán nghĩa vụ thuế và hầu hết đối tượng khảo sát thuộc các DNNVV đồng ý rằng có tình trạng khai tăng chi phí trong các tờ khai thuế với mục đích chính là báo cáo nghĩa vụ thuế thấp hơn theo quy định.
Michelle Kim Harding (2017) chỉ ra rằng có tương quan giữa việc gia tăng các quy định hoặc yêu cầu đối với kê khai thuế và chất lượng BCTC công bố theo Chuẩn mực kế toán tài chính số 48 (FIN 48). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có ít thông tin hơn cho người sử dụng BCTC do cách các công ty phản hồi lại với các yêu cầu báo cáo thuế gia tăng trong các báo cáo khai thuế của Sở Thuế vụ. 7 Marziana Mohamad, Mohd Asri Mohd Ali (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi không tuân thủ thuế của DNNVV tại các khu đô thị. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố quyết định tới hành vi không tuân thủ thuế của các DNNVV và nhận thức của họ đối với các quy định về thuế.
Kết quả chỉ ra rằng ưu đãi thuế và quy mô công ty có liên quan đáng kể đối với việc không tuân thủ thuế. Fany Inasius (2019) tìm hiểu về tuân thủ tự nguyện và chấp hành nghĩa vụ thuế của DNNVV tại Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tin tưởng vào cơ quan thuế là yếu tố quan trọng trong việc tuân thủ thuế tự nguyện. Lòng tin ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tự nguyện và nhưng không phải là động cơ thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế.
Các nghiên cứu liên quan đến việc lập báo cáo quyết toán thuế không đầy đủ, kịp thời và đúng quy định như nghiên cứu của Felix Naah (2018) cho thấy việc thổi phồng chi phí của họ trong các tờ khai thuế khi báo cáo, nộp hồ sơ và thanh toán nghĩa vụ thuế có mục đích duy nhất là báo cáo nghĩa vụ thuế thấp hơn trách nhiệm pháp lý. Michelle Kim Harding (2017) chỉ ra rằng có ít thông tin hơn cho người sử dụng BCTC do cách các công ty phản hồi lại với các yêu cầu báo cáo thuế gia tăng trong trong các báo cáo khai thuế của Sở Thuế vụ là hình thức biểu hiện của hành vi không tuân thủ thuế. Nghiên cứu của Bernadette Kamleitner, Christian Korunka và Erich Kirchler (2012), Marziana Mohamad và Mohd Asri Mohd Ali (2017), Fany Inasius (2019) và Adane Agegn (2020) là các nghiên cứu tìm hiểu nhận thức về luật và các quy định về thuế và sự tự nguyện tuân thủ thuế của DNNVV. Có khá nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tuân thủ thuế của NNT được công bố trong và ngoài nước tại các quốc gia đang phát triển.
Nugi Nkwe (2013) nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế của NNT ở Botswana trong giai đoạn 2011 – 2013 và đã rút ra kết luận thái độ của NNT có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Nghĩa là thái độ nhìn nhận về nghĩa vụ nộp thuế càng công bằng, khách quan thì việc chấp hành thuế ở mức độ tự nguyện càng cao. Ngoài 8 nhân tố cá nhân, Tadesse Engida & Goitom Abera (2014) đã phân loại các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tuân thủ thuế thành năm nhóm: Nhân tố kinh tế; Nhân tố đặc điểm cơ quan thuế; Nhân tố xã hội; Nhân tố cá nhân; Nhân tố nhân khẩu học được đo lường thông qua 13 biến quan gồm: Xác suất kiểm tra, thanh tra; Cảm nhận về sự hợp lý trong chỉ tiêu chính phủ; Tăng trưởng kinh tế; Tính công bằng trong nhận thức của NTT; Cảm nhận về hình phạt nếu trốn thuế; Hạn chế tài chính cá nhân, thay đổi và sửa đổi chính sách hiện hành của chính phủ; Ảnh hưởng của môi trường xã hội; Vai trò của CQT; Hiểu biết và kiến thức về thuế; Giới tính; Thu nhập trình độ học vấn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hành vi tuân thủ thuế chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi tần suất (mức độ) kiểm tra và thanh tra; Hạn chế tài chính và thay đổi chính sách của chính phủ, các biến khác như: hình phạt, sự công bằng trong cảm nhận của NTT và vai trò của CQT có ảnh hưởng không đáng kể với các hành vi tuân thủ thuế.
Khác biệt so với kết quả nghiên cứu của Tadesse Engida & Goitom Abera (2014), Herman .P và cộng sự (2019) cho rằng quản trị tốt, hiểu biết về thuế, các biện pháp trừng phạt thuế có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tuân thủ thuế của DNNVV và siêu nhỏ ở Medan. Phát hiện này cũng tương tự nghiên cứu của Adugna Megenasa Biru (2020) và Maureen Chepkorir Bett (2020) đó là thuế suất có tác động tiêu cực đáng kể đối với hành vi tuân thủ thuế của DNNVV nhưng mức thu nhập, hình phạt và tiền phạt, khen thưởng và khuyến khích, tính đơn giản của hệ thống thuế, nhận thức về chi tiêu chính phủ, kiểm toán thuế, thái độ, kiến thức thuế ảnh hưởng tích cực với hành vi tuân thủ thuế của DNNVV. Các nghiên cứu tại Việt Nam Nguyễn Bích Ngọc (2018) tìm hiểu mục đích và chất lượng BCTC của các DNNVV. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng BCTC dựa trên khuôn mẫu chất lượng trung thực và hợp lý không được coi trọng so với mục đích vay vốn và tuân thủ quy định nộp báo cáo cho cơ quan thuế.
Tuy nhiên, chất lượng báo cáo thuế chưa đáp ứng được yêu cầu. Chất lượng báo cáo quyết toán thuế được phản ánh qua hành vi tuân thủ thuế của DNNVV mà người quyết định 9 là chủ doanh nghiệp. Chính vì thiếu cơ chế giám sát hữu hiệu và sự buôn lỏng của cơ quan thuế dẫn tới các chủ doanh nghiệp có nhiều cơ hội để gia tăng mức độ không tuân thủ thuế. Đặng Thị Bạch Vân (2014) cho rằng hành vi tuân thủ thuế phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: Nhóm yếu tố kinh tế (mức thu nhập thực tế, thuế suất, xác suất kiểm tra của CQT và mức phạt đối với hành vi trốn thuế) và nhóm yếu tố tâm lý - xã hội (nhận thức về tính công bằng, ý thức thuế).
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khi NNT nâng cao tính tự nguyện tuân thủ, CQT sẽ giảm bớt áp lực trong việc thanh tra kiểm tra thuế, làm giảm sự chênh lệch giữa số thuế thu được và số thuế đáng lẽ phát sinh thực tế. Nguyễn Đình Chiến và Phạm Thị Ái Mỹ (2018) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế TNDN của DNNVV trên địa bàn Thành phố Huế, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát 220 người đại diện cho các DNNVV. Kết quả cho thấy có 6 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế TNDN của DNNVV gồm: Chính sách thuế và quản lý thuế; Kinh tế; Đặc điểm DN; Ngành kinh doanh; Pháp luật xã hội; và Tâm lý. Trong đó, nhân tố Pháp luật xã hội có ảnh hưởng lớn nhất đến sự tuân thủ thuế TNDN của DNNVV.
Nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao tính tuân thủ thuế TNDN của DNNVV. Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thành Trung (2016) bằng việc sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu đã xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kê khai quyết toán thuế TNDN của các DNNVV. Kết quả kiểm định mô hình cho thấy có năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kê khai quyết toán thuế TNDN của các DNNVV theo thứ tự tác động lần lượt là: Chính sách thuế; CQT; Bộ máy kế toán; Mục tiêu lập quyết toán thuế; Nhà quản lý DN.
Trần Thị Kim Ngân và Trần Kim Ngân (2019) sử dụng phân tích hồi quy trong phân tích các nhân tố tác động đến sự tuân thủ thuế của NNT tại tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu khẳng định có 5 nhân tố tác động đến sự tuân thủ thuế của NNT gồm: Kiểm tra thuế và hình phạt; Tính đơn giản của việc kê khai thuế, 10 tuyên truyền và hỗ trợ NNT; Chính sách của chính phủ; Hiệu quả chi tiêu công; Kiến thức thuế. Nguyễn Thị Lý và Trà Văn Trung (2018) tiến hành nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của các DN ở tỉnh Đồng Nai. Thông qua phân tích định tính và định lượng, kết quả cho thấy rằng có 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của NNT, bao gồm: Kinh tế; Chính sách thuế, Luật và xã hội; Quản lý thuế; Tâm lý.
Đồng thời, phát hiện cũng giúp thúc đẩy NNT thực hiện trách nhiệm thuế của họ tự nguyện cũng như giúp CQT Đồng Nai đưa ra các giải pháp quản lý thuế hữu hiệu hơn để thu hút đầu tư trong tương lai. Cùng quan điểm trên Nguyễn Tiến Hùng, Nguyễn Thành Tâm và Phạm Thành Luân (2020) cũng cũng chỉ ra 5 nhân nhân tố trên và bổ sung thêm 2 nhân tố là đặc điểm NNT và yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế. Với dữ liệu là 204 khách hàng được chọn mẫu theo ngẫu nhiên ở Long An năm 2019.