CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do thực hiện đề tài Trong thời điểm nền kinh tế thay đổi nhanh chóng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) rất mong manh và dễ bị tổn thương do không bắt kịp xu thế, hoặc không đủ nguồn lực để có thể làm ổn định tình hình kinh doanh. Đại dịch Covid 19 cuối năm 2020 đến hết năm 2021 đã có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, dẫn đến nhiều DNVVN phá sản ngay từ khi mới bắt đầu hoạt động hoặc hoạt động trong một thời gian ngắn. Trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp (DN) là sự yếu kém trong việc xác định công tác quản trị, làm cho một bộ phận các DNVVN bị mất kiểm soát khi có sự thay đổi về môi trường kinh doanh và biến cố của thị trường.
Trong hoạt động kinh doanh của các DN, công tác kế toán đóng vài trò quan trọng, giúp cho hoạt động kinh doanh (HĐKD) của DN được tiếp tục hoạt động theo hướng chủ động và hợp pháp. Tuy nhiên, công tác kế toán trong DNVVN hiện nay cơ bản còn nhiều điểm bất cập, nhiều DN đã không dự đoán được kịp thời các tình huống có thể xảy ra trong một tương lai gần. Trên thực tế các chủ doanh nghiệp chỉ sử dụng thông tin kế toán để báo cáo thuế, không nhiều DNVVN sử dụng các thông tin kế toán quản trị (KTQT) để lập kế hoạch và ra quyết định cho các HĐKD của DN. Hầu hết các nhà quản lý ở các DNVVN vẫn còn quản lý theo kinh nghiệm và quyết định cảm tính của bản thân, dẫn đến nhà quản lý không thể hiểu hết được tình hình tài chính của DN, vì thế có thể dẫn đến rủi ro phạm sai lầm trong khi các quyết định liên quan đến HĐKD của DN.
Trong bối cảnh cạnh tranh và nền kinh tế mở như hiện nay, đặc biệt trong thời gian gần đây, Bình Dương được biết đến như là một tỉnh công nghiệp mới nổi và phát triển nhanh chóng về kinh tế. Các DN mới xuất hiện càng nhiều càng đặt ra nhiều thách thức cho các chủ DNVVN để tồn tại và phát triển, nâng cao tính cạnh tranh trên thương trường. Tuy nhiên, theo tác giả khảo sát được, các DN có quy mô vừa và nhỏ theo thiên hướng mô hình quản lý kiểu gia đình, ít chú trọng đến việc tổ chức bộ máy KTQT. Điều này làm ảnh hưởng đến các quyết định và định hướng chiến lược gặp nhiều khó khăn.
Có một số DNVVN có áp dụng KTQT, 2 tuy nhiên còn ở mức độ đơn giản, chưa tổ chức được bộ máy KTQT hiệu quả, dẫn đến các thông tin KTQT chưa đầy đủ, chưa giúp cho các nhà quản trị nắm được tình hình tài chính, cũng như đưa ra những dự báo về tình hình kinh doanh và đưa ra các kế hoạch chưa thực sự phù hợp với quy mô DNVVN của mình. Đồng thời, trong công tác thực KTQT ở các DNVVN, việc tổ chức bộ máy KTQT đóng vai trò quan trong, chi phối quá trình phân chia nhiệm vụ, thu thập thông tin, xử lý và cung cấp thông tin KTQT cho các cấp lãnh đạo ra quyết định. Chính vì các lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ ở Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình nhằm nhận diện và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy KTQT tại các DNTMVVN trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đưa ra các hàm ý quản trị giúp các DNTMVVN hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy KTQT, sử dụng công cụ KTQT để kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động tại các DN. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu ngoài nước Liên quan đến KTQT, các nhà nghiên cứu ngoài nước từ lâu đã nghiên cứu trên rất nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau. Về cơ bản, các nghiên cứu có thể tựu chung theo các hướng nghiên điển hình như sau: Hướng thứ nhất, bao gồm các nghiên cứu về việc áp dụng các kỹ thuật KTQT: Chenhall và Langfield-Smith (1998) đã thực hiện một nghiên cứu thực trạng áp dụng KTQT tại 140 DN sản xuất lớn ở Úc. Kết quả khảo sát nhận được từ 78 DN lớn cho thấy tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật KTQT truyền thống như lập dự toán, phân tích ROI được các DN lớn hơn các kỹ thuật KTQT mới. Các kỹ thuật KTQT mới như chi phí mục tiêu, hạch toán chi phí hoạt động theo phương pháp ABC, chi phí theo chuỗi giá trị ít được áp dụng và đón nhận.
Nghiên cứu này là một tiền đề để các nghiên cứu sau kế thừa và nghiên cứu về thực trạng áp dụng KTQT trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau. 3 Abdel‐Kader và Luther (2006) đã thực hiện điều tra các kỹ thuật thực hành KTQT trong ngành thực phẩm và đồ uống ở Anh thông qua sử dụng bảng câu hỏi và khảo sát 122 công ty trong ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống ở Anh. Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã xem xét 38 kỹ thuật thực hành KTQT được xếp thành năm nhóm: Hệ thống chi phí, lập ngân sách, đánh giá hiệu suất, thông tin để ra quyết định và phân tích chiến lược. Tuy nhiên kết quả thu về cũng tương tự như nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998), đó là các kỹ thuật KTQT truyền thống vẫn được sử dụng rộng rãi, chưa đạt được sự kỳ vọng mong đợi của tác giả.
Armitage và cộng sự (2013) nghiên cứu về việc áp dụng KTQT trong các DNVVN ở Canada để tìm hiểu lý do các kỹ thuật KTQT hiện đại chưa được áp dụng rộng rãi. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để khảo sát sâu 11 DN ở Canada, kết quả thu về có 19 kỹ thuật KTQT được sử dụng rộng rãi nhất ở đất nước này và cũng đưa ra kết luận các DN sản xuất sử dụng các kỹ thuật KTQT nhiều hơn so với các DN khác. Các kỹ thuật phổ biến nhất là: dự toán hoạt động, các phương pháp hoạch toán chi phí, báo cáo bộ phận, phân tích chênh lệch, báo cáo kết quả HĐKD. Những kỹ thuật khác ít được sử dụng hơn.
Kế thừa các nghiên cứu trước đây về KTQT, Ahmad và Leftesi (2014) đã thực hiện nghiên cứu về KTQT nhằm xem xét mức độ mà các KTQT truyền thống và tiên tiến đang được sử dụng trong các công ty sản xuất ở Libya. Ở nghiên cứu này, nhóm tác giả áp dụng 24 phương pháp KTQT dựa trên nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998). Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho rằng việc vận dụng KTQT truyền thống như phân tích chi phí và phương sai tiêu chuẩn, lập ngân sách truyền thống và phân tích lợi nhuận khối lượng chi phí bị rất nhiều chỉ trích do đã lỗi thời và không phù hợp với môi trường sản xuất và kinh doanh mới ngày nay. Tuy nhiên, kết quả thu về các công ty sản xuất ở Libya vẫn ưu tiên sử dụng các phương pháp truyền thống hơn, tốc độ áp dụng phương pháp mới rất thấp và chậm.
Điều này cũng tương tự ở các nước đang phát triển khác. Nghiên cứu đưa ra kết luận cần phải phổ cập vận dụng kỹ thuật KTQT để phù hợp với từng thời kỳ kinh tế. 4 Cuzdriorean (2017) đã thực hiện nghiên cứu về KTQT ở vùng Transylvania Romania nhằm xác định những công cụ nào đang được sử dụng bởi các DNVVN. Các kỹ thuật thực hành KTQT gồm 49 kỹ thuật theo hai loại là thực hành KTQT truyền thống và thực hành KTQT hiện đại.
Kết quả cho thấy KTQT truyền thống được đánh giá là sử dụng nhiều hơn KTQT hiện đại. Choiriah và Sudibyo (2020), nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh, văn hóa tổ chức và khả năng lãnh đạo bền vững đối với sự thành công của hệ thống thông tin KTQT. Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu thứ cấp để kiểm tra thực nghiệm mỗi quan hệ giữa lợi thế cạch tranh, văn hóa tổ chức và khả năng lãnh đạo bền vững trong việc áp dụng thành công hệ thống thông tin KTQT. Thông qua việc khảo sát một số DN tại Bekasi, Tây Java.
Kết quả nghiên cứu là 3 nhân tố này có quan hệ tích cực và có ý nghĩa với việc triển khai hệ thống thông tin KTQT. Hướng thứ hai, bao gồm các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến vận dụng kế toán quản trị: Clarke và cộng sự (1997) nghiên cứu tình hình áp dụng KTQT trong các DN ở Ireland thông qua việc phỏng vấn khảo sát khảo sát 511 công ty sản xuất tại đây, họ phát hiện rằng phương pháp KTQT ABC không được sử dụng phổ biến như Mỹ, Anh và Canada. Nguyên nhân được tìm thấy đó là các nhân viên kế toán chỉ làm việc như một người ghi sổ chứ không có chức năng hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị. Haldma và Laats (2002) đã nghiên cứu sự thay đổi của KTQT trong các DN ở Estonia.
Qua việc khảo sát 62 doanh nghiệp tại đây, tác giả nhận thấy mối quan hệ mật thiết giữa các thay đổi trong KTQT và sự thay đổi của môi trường kinh doanh, các yếu tố công nghệ, cơ cấu tổ chức và bằng cấp của nhân viên kế toán. Trong đó yếu tố quy mô DN là ảnh hưởng nhất đến việc áp dụng KTQT trong DN. Halbouni và Nour (2014) xem xét ảnh hưởng của ba nhân tố: toàn cầu hóa, công nghệ thông tin và bối cảnh của doanh nghiệp đối với việc vận dụng KTQT. Nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát với 138 người hành nghề KTQT ở các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) để xác định quan điểm của họ về những 5 yếu tố thúc đẩy việc vận dụng KTQT.
Kết quả phát hiện ra rằng cả 3 nhân tố trên đều có ảnh hưởng đến vận dụng thực tiễn KTQT tại UAE. Sudhashini và Nian (2017) đã chỉ ra 4 yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong DN ở Malaysia đó là đặc điểm tổ chức, mức độ cạnh tranh, trình độ của nhân viên kế toán và công nghệ đang áp dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố đặc điểm tổ chức và trình độ công nghệ đang áp dụng là hai yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KTQT trong DN. Diah Agustina Prihastiwi, Mahfud Sholihin (2018) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN nhỏ và vừa tại Indonesia.
Bằng việc khảo sát 124 DN nhỏ và vừa tại Indonesia và dung phương pháp hồi quy để phân tích dữ liệu và kiểm tra các giả thiết.