CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN. Những lý luận cơ bản về thị trường và công ty chứng khoán. Giới thiệu về cổ phiếu. Khái niệm về cổ phiếu: Theo Luật chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu cổ phần của tổ chức, công ty hoặc doanh nghiệp phát hành.
Có 2 loại cổ phiếu là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu phổ thông: Là cổ phiếu phổ biến nhất trong các loại cổ phần của một công ty cổ phần mà người nắm giữ có quyền dự họp đại hội cổ đông cũng như có quyền biểu quyết những vấn đề của công ty như cơ cấu nhân sự, định hướng hoạt động, phát triển của công ty. Các cổ đông sở hữu loại cổ phiếu này được quyền tự do chuyển nhượng, có đầy đủ quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông và được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu họ nắm giữ dưới sự thống nhất của hội đồng cổ đông. Cổ phiếu ưu đãi: (Gordon và cộng sự, 2000) là cổ phiếu mà người nắm giữ sẽ được hưởng một số đặc quyền hơn những nhà đầu tư khác nhưng sẽ bị hạn chế một số quyền so với cổ đông phổ thông. Cũng giống như cổ phiếu thường, người mua cổ phiếu ưu đãi được xem là cổ đông trong công ty.
Tuy nhiên, cổ phiếu ưu đãi trả một lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ, giống như trái phiếu, mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi khác với mệnh giá cổ phiếu thường, chỉ có giá trị danh nghĩa và được quyết định sau đại hội đồng cổ đông, được sự đồng thuận của đại đa số cổ đông. Khái niệm về thị giá cổ phiếu: Thị giá cổ phiếu còn được gọi là “Stock price” trong tiếng Anh. Đây là giá trị mua bán cổ phiếu được thực hiện thông qua các giao dịch trên thị trường. Trong thị trường chứng khoán, giá trị khớp lệnh của một cổ phiếu ở thời điểm cụ thể sẽ được hiểu là thị giá của cổ phiếu tại thời điểm 8 đó.
Trong thị trường chứng khoán, giá trị khớp lệnh của một cổ phiếu ở thời điểm cụ thể sẽ được hiểu là thị giá của cổ phiếu tại thời điểm đó. Thị giá cổ phiếu mang 1 số đặc điểm cụ thể như sau: Thị giá cổ phiếu có thể bằng, thấp hoặc cao hơn giá trị sổ sách và mệnh giá của cổ phiếu. Thị giá cổ phiếu sẽ biến động theo thời gian và phụ thuộc vào nhiều tác động như tình hình kinh tế vĩ mô, sự tăng trưởng hoặc suy thoái của công ty cổ phần, lãi suất thị trường, tình hình chính trị,… Vì lợi tức của cổ phiếu thường không cố định mà nó sẽ phụ thuộc vào mức lợi nhuận thu được từ công ty cổ phần. Ngoài ra còn dựa vào chính sách chi trả cổ tức của công ty đó, do đó nó là loại chứng khoán có độ rủi ro cao.
Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho giá cổ phiếu trên thị trường biến động mạnh hơn so với các loại chứng khoán khác. Cung và cầu thị trường chứng khoán: Thị giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung cầu. Đối với những doanh nghiệp có xu hướng kinh doanh tốt và tăng trưởng, nhiều nhà đầu tư có nhu cầu mua cổ phiếu, kỳ vọng lợi nhuận cao. Ngược lại, khi doanh nghiệp kinh doanh không tốt, có xu hướng đi xuống, có thể khiến nhà đầu tư lo lắng và muốn bán cổ phiếu.
Việc bán tháo cổ phiếu ồ ạt khiến thị giá giảm mạnh, đồng thời thu về ít lợi nhuận hơn. Các công ty có vốn hóa lớn thường thu hút được nhiều nhà đầu tư lớn. Điều này sẽ đẩy thị giá cổ phiếu tăng lên. Tuy nhiên, bạn sẽ ít nhận được mức lợi nhuận đột biến khi đầu tư vào những cổ phiếu này.
Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ với số lượng cổ phiếu trên thị trường thấp, có tiềm năng tăng giá mạnh mẽ, mang lại lợi nhuận cao (có thể tăng gấp đôi hoặc gấp ba).2 Giới thiệu về thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán. 9 Theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán định nghĩa: Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở đó mọi người có thể mua bán, chuyển nhượng, trao đổi cổ phiếu nhằm mục đích kiếm lời, nắm quyền biểu quyết hoặc tham gia vào vị trí nhất định trong công ty. Nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán với thời gian thích hợp tuỳ vào nhu cầu của bản thân: ngắn, trung và dài hạn.2 Phân loại thị trường chứng khoán. Theo Luật chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp như sau: Thị trường sơ cấp: Khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành hoặc từ các công ty.
Giá chứng khoán do tổ chức, nơi phát hành quyết định. Thị trường thứ cấp: Khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp, là sự thoả thuận giá giữa những nhà đầu tư với nhau.3 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán. Nguồn phát hành: (Theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán). Bao gồm các tổ chức thực hiện hoạt động huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán.
Nhà phát hành có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương, công ty hoặc bất kỳ doanh nghiệp có nhu cầu niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán. Chính phủ phát hành các loại trái phiếu chính phủ với thời gian đa dạng (05 năm, 10 năm.) nhằm huy động tiền hỗ trợ cho ngân sách hoặc thi công, xây dựng các công trình quốc gia, công trình công cộng, phúc lợi xã hội. Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu địa phương để huy động tiền đầu tư cho các công trình địa phương, phúc lợi khu vực hay chương trình kinh tế, xã hội của địa phương. 10 Các công ty, doanh nghiệp muốn huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất phát hành trái phiếu công ty hoặc cổ phiếu, tạo uy tín hoặc tạo thương hiệu cho công ty, doanh nghiệp.
Nhà đầu tư: Nhà đầu tư cá nhân: Gồm những nhà đầu tư cá nhân, riêng lẻ có nhu cầu tham gia vào thị trường chứng khoán, giao dịch và tìm kiếm lợi nhuận, tăng thu nhập tài chính. Nhà đầu tư tổ chức: Bao gồm những công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ ngoại, công ty tài chính, ngân hàng thương mại. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán được quy định tại Khoản 5 Điều 2 Thông tư 123/2015/TT-BTC hướng dẫn hoạt động đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành như sau: Công ty chứng khoán: Thực hiện hoạt động tự doanh (mua bán, giao dịch chứng khoán), cho vay, hỗ trợ mở tài khoản, tư vấn khách hàng lựa chọn cổ phiếu, giải đáp các thắc mắc xoay quay thị trường chứng khoán. Quỹ đầu tư chứng khoán: Quỹ hình thành từ việc huy động vốn góp của nhiều nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán.
Các quỹ đầu tư chứng khoán đều hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế rủi ro tối đa cho người góp vốn. Ngày 27/12/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 128/2018/TT-BTC quy định giá dịch vụ trong lĩnh vực chứng khoán áp dụng tại các tổ chức kinh doanh chứng khoán, ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Các tổ chức tài chính: Bao gồm những ngân hàng hỗ trợ cho vay vốn đầu tư, các công ty bảo hiểm, tổ chức tư vấn, môi giới chứng khoán. Các tổ chức liên quan đến chứng khoán: Cơ quan quản lý Nhà nước, sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, tổ chức lưu ký 11 và thanh toán bù trừ chứng khoán, công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, các tổ chức tài trợ chứng khoán, công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.4 Tầm quan trọng của thị trường chứng khoán.
Theo Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng (2009), huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế là huy động tiền hỗ trợ cho ngân sách hoặc thi công, xây dựng các công trình quốc gia, công trình công cộng, phúc lợi xã hội. Kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp: Các công ty, doanh nghiệp muốn huy động nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn thường sử dụng cách niêm yết cổ phiếu của công ty, doanh nghiệp đó trên thị trường chứng khoán (Tracy Byrnes, 2008). Việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ dễ dàng, thuận lợi và nhanh chóng huy động thêm vốn từ việc phát hành thêm cổ phiếu để đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp cho nhu cầu sản xuất, hoạt động kinh doanh. Như vậy, doanh nghiệp không phải lo gánh nặng tức thì lãi vay và trả nợ gốc như đi vay ngân hàng, hạn chế tối đa rủi ro nợ đến hạn, có thể chủ động kịp thời trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được cho chiến lược dài hạn của mình.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: Tạo thêm nguồn thu nhập cho nhà đầu tư, tăng cơ hội và môi trường làm việc tài chính, thúc đẩy nhu cầu việc làm và ưu thế bản thân. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, sản xuất tốt sẽ có biểu đồ trục giá xu hướng tăng theo thời gian và ngược lại (Ackert and Deaves, 2009). Việc tham khảo biểu đó giá giúp các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức và đối tác có thêm khía cạnh đánh giá, tạo cơ sở để từ đó quyết định đầu tư, hợp tác hay không. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Thị trường chứng khoán ổn định và phát triển sẽ giúp chính phủ sẽ tiếp tục tạo mọi điều kiện để môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, ổn định chính sách vĩ mô, tăng cường các cân đối lớn của nền kinh tế.5 Hàng hoá trên thị trường chứng khoán Thị trường cổ phiếu: Thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, cổ tức phát hành thêm (Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định).