Các nhân tố tác động đến khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam, cung cấp góc nhìn chuyên sâu.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

219
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN

1.1. Khởi sự kinh doanh của doanh nhân

1.2. Khởi sự kinh doanh và doanh nhân. Các hướng nghiên cứu KSKD của doanh nhân

1.3. Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân

1.4. KSKD thành công của doanh nhân

1.5. Các lý thuyết nghiên cứu về KSKD thành công của doanh nhân

1.6. Tổng quan nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân

1.7. KSKD của nữ doanh nhân

1.8. Nghiên cứu các yếu tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân

1.9. Nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam

1.10. Khoảng trống nghiên cứu về KSKD thành công của nữ doanh nhân trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam

1.11. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN TẠI VIỆT NAM

2.1. Cơ sở lý thuyết về KSKD thành công của nữ doanh nhân

2.2. Khái niệm và xác định KSKD thành công của nữ doanh nhân

2.3. Đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố tác động đến KSKD thành công của nữ doanh nhân ở Việt Nam

2.4. Mô hình nghiên cứu

2.5. Các giả thuyết nghiên cứu

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Quy trình xây dựng bảng hỏi

3.4. Mẫu nghiên cứu

3.5. Thang đo của các biến nghiên cứu

3.6. Nghiên cứu định tính

3.7. Mục tiêu của phỏng vấn sâu

3.8. Phương pháp thực hiện phỏng vấn sâu

3.9. Kết quả nghiên cứu định tính

3.10. Diễn đạt và mã hóa thang đo

3.11. Nghiên cứu định lượng

3.12. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.13. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.14. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đánh giá thang đo

4.1.1. Thống kê mô tả biến độc lập và kiểm định dạng phân phối của các thang đo biến độc lập

4.1.2. Thống kê mô tả biến phụ thuộc

4.1.3. Kiểm định giá trị của thang đo

4.1.4. Kiểm định chất lượng thang đo cho các nhân tố tạo thành

4.2. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

4.2.1. Kiểm định hệ số tương quan

4.2.2. Kiểm định giả thuyết và phân tích hồi quy

4.3. Kiểm định sự khác biệt của các biến kiểm soát tới KSKD thành công của nữ doanh nhân tại Việt Nam

4.3.1. Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo tuổi

4.3.2. Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo nền tảng gia đình

4.3.3. Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo tình trạng hôn nhân

4.3.4. Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo trình độ học vấn

4.3.5. Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo lĩnh vực KD

4.3.6. Kiểm định sự khác biệt về KSKD thành công của nữ doanh nhân theo địa bàn hoạt động

4.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

5.2. Kết luận nghiên cứu

5.3. Những đóng góp mới của luận án

5.3.1. Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

5.3.2. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án

5.4. Một số kiến nghị

5.4.1. Các trở ngại của nữ doanh nhân tại Việt Nam

5.4.2. Một số khuyến nghị chính sách đối với chính phủ

5.4.3. Một số kiến nghị đối với các nữ doanh nhân

5.5. Hạn chế của nghiên cứu và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khởi nghiệp và nữ doanh nhân tại Việt Nam

Khởi nghiệp là một quá trình quan trọng trong việc tạo ra và phát triển doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế năng động như Việt Nam. Nữ doanh nhân đóng vai trò ngày càng lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Theo báo cáo của GEM năm 2005, tỷ lệ nữ doanh nhân ở các nước đang phát triển cao hơn so với các nước phát triển. Tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp do phụ nữ điều hành chiếm khoảng 21% tổng số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến thành công khởi nghiệp của nữ doanh nhân, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp.

1.1. Vai trò của nữ doanh nhân trong nền kinh tế

Nữ doanh nhân không chỉ tạo ra việc làm cho bản thân mà còn cho xã hội. Các doanh nghiệp do phụ nữ điều hành thường sử dụng nhiều lao động nữ hơn so với doanh nghiệp do nam giới quản lý. Nghiên cứu chỉ ra rằng đầu tư vào nữ doanh nhân mang lại lợi nhuận cao hơn so với nam giới. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc hỗ trợ và phát triển năng lực khởi nghiệp cho phụ nữ, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi như Việt Nam.

1.2. Thách thức và cơ hội đối với nữ doanh nhân

Mặc dù có nhiều đóng góp, nữ doanh nhân tại Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như hạn chế tiếp cận vốn tài chính, định kiến xã hội và thiếu kỹ năng quản lý. Tuy nhiên, cơ hội cũng rất lớn khi các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp ngày càng được chú trọng. Nghiên cứu này tập trung phân tích các yếu tố này để đề xuất giải pháp phù hợp.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công khởi nghiệp của nữ doanh nhân

Nghiên cứu xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến thành công khởi nghiệp của nữ doanh nhân tại Việt Nam, bao gồm vốn nhân lực, vốn tài chính, mạng lưới hỗ trợ và chiến lược kinh doanh. Các yếu tố này được phân tích dựa trên dữ liệu định tính và định lượng, nhằm đưa ra kết luận chính xác về mức độ tác động của từng yếu tố.

2.1. Vốn nhân lực và kỹ năng quản lý

Vốn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, bao gồm trình độ học vấn, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý. Nghiên cứu chỉ ra rằng nữ doanh nhân có trình độ học vấn cao và kỹ năng quản lý tốt thường đạt được thành công cao hơn trong khởi nghiệp. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình đào tạo và hỗ trợ phát triển kỹ năng cho phụ nữ.

2.2. Tiếp cận vốn tài chính

Tiếp cận vốn tài chính là thách thức lớn đối với nữ doanh nhân. Nghiên cứu cho thấy nhiều phụ nữ gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ các nguồn chính thức như ngân hàng. Điều này đòi hỏi các chính sách hỗ trợ tài chính đặc thù dành cho nữ doanh nhân, giúp họ vượt qua rào cản này.

III. Phân tích và kiến nghị chính sách

Nghiên cứu đưa ra các kiến nghị chính sách nhằm hỗ trợ nữ doanh nhân tại Việt Nam, bao gồm cải thiện khả năng tiếp cận vốn, tăng cường đào tạo kỹ năng và xây dựng mạng lưới hỗ trợ. Các kiến nghị này dựa trên kết quả phân tích thực tiễn và nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp do phụ nữ điều hành.

3.1. Hỗ trợ tài chính và đào tạo

Các chính sách hỗ trợ tài chính như quỹ đầu tư đặc thù và chương trình đào tạo kỹ năng quản lý là cần thiết để giúp nữ doanh nhân vượt qua thách thức. Nghiên cứu đề xuất tăng cường hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức quốc tế để triển khai các chương trình này một cách hiệu quả.

3.2. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ

Mạng lưới hỗ trợ từ các tổ chức xã hội và cộng đồng doanh nhân là yếu tố quan trọng giúp nữ doanh nhân chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác. Nghiên cứu khuyến nghị xây dựng các diễn đàn và sự kiện kết nối dành riêng cho phụ nữ khởi nghiệp.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh các nhân tố tác động tới khởi sự kinh doanh thành công của nữ doanh nhân tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KSKD THÀNH CÔNG CỦA NỮ DOANH NHÂN 1. Khởi sự kinh doanh của doanh nhân 1. Khởi sự kinh doanh và doanh nhân 1.1 Khái niệm KSKD (entrepreneurship) Khởi sự theo nghĩa tiếng việt là bắt đầu hành động để thực hiện theo kế hoạch (một việc quan trọng).

KSKD theo nghĩa bắt đầu thực hiện một công việc kinh doanh. Khởi sự kinh doanh có thể là mở một doanh nghiệp mới (start a new business) hoặc tạo ra một liên doanh (new venture creation), hoặc tinh thần kinh doanh (entrepreneurship). Một khía cạnh khác, KSKD được định nghĩa là tự làm chủ, tự kinh doanh (self-employment). Trên giác độ nghiên cứu khác nhau, thì KSKD được gắn với các thuật ngữ khác nhau.

KSKD thường gắn với 2 thuật ngữ tương ứng với hai hướng nghiên cứu như sau: - KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp (self-employment). Theo hướng nghiên cứu này KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của mình và thuê người khác làm công cho mình. - Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, khởi sự kinh doanh gắn với thuật ngữ “entrepreneurship – tinh thần kinh doanh” các nghiên cứu trong lĩnh vực này được nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau. Jennings (1994) định nghĩa KSKD bao gồm bất kỳ nỗ lực nào của con người để thử một cái gì đó mới.

Các định nghĩa về KSKD của Schumpeter (1961) và Kirzner (1973, 1979) chú trọng đến sự đổi mới, xác định cơ hội, tạo ra sự giàu có, tăng trưởng cho nền kinh tế. Phù hợp với ý tưởng KD của Schumpeter và Kirzner, Murray (1938) cũng mô tả KSKD là một quá trình năng động được tạo ra và quản lý bởi một cá nhân. Vanderwerf và Brush (1989) trong việc xem xét 25 định nghĩa về KSKD cho thấy rằng KSKD đã được định nghĩa là một hoạt động KD bao gồm một số hành vi con người sau đây: thứ nhất là sáng tạo, đó là việc thành lập một DN mới; thứ hai là quản lý chung, đó là hướng quản lý hoặc phân bổ NL cho một DN; thứ ba là đổi mới, đó là việc khai thác thương mại một số sản phẩm, quy trình, thị trường, vật liệu hoặc tổ chức mới; thứ tư là sự chấp nhận rủi ro cao không phổ biến từ những mất mát tiềm tàng hoặc thất bại của một DN; và thứ năm là ý định thực hiện, đó là ý định nhận ra Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 10 mức tăng trưởng cao và/ hoặc lợi nhuận thông qua tạo lập một DN. Hai khái niệm tự tạo việc làm và tinh thần kinh doanh có sự khác biệt.

Tự tạo việc làm là bắt đầu bằng một công việc kinh doanh tự làm và không làm thuê cho ai. Tinh thần kinh doanh là tạo ra một DN nhưng có thể vẫn đi làm cho một tổ chức khác. Khái niệm KSKD trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm với nghĩa tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) đó là tạo ra DN mới, sử dụng NL, sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhận/tăng trưởng. Từ những nghiên cứu trên về định nghĩa KSKD, trong phạm vi luận án này thuật ngữ KSKD được định nghĩa là một hành động sáng tạo của con người.

KSKD bắt đầu bằng cách tìm kiếm NL và phương tiện tài chính cá nhân để bắt đầu thành lập và vận hành một DN mới. KSKD là một quá trình sáng tạo đòi hỏi phải xác định và nắm bắt được cơ hội KD, tổ chức các NL hiện có để chuyển đổi những cơ hội đó thành sản phẩm hoặc dịch vụ và bán ra thị trường. Qua thời gian, nỗ lực và tài chính, KSKD làm tăng giá trị, kỹ năng cá nhân và lợi ích của xã hội (XH).2 Doanh nhân - Người KSKD (Entrepreneur) Schumpeter (1954) cho rằng doanh nhân là người sáng tạo. Ông lập luận rằng doanh nhân là người tạo ra sự đổi mới, tạo ra sự phát triển thực sự trong nền kinh tế.

Schumpeter là người chú ý nhiều nhất đến doanh nhân sáng tạo. Sự đổi mới ở những doanh nhân làm cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy doanh nhân là những người đóng góp hơn so với những người khác vào nền kinh tế nhờ sự đổi mới và thực hiện các kết hợp mới. Sự đổi mới này có thể là tạo ra một sản phẩm mới, một phương pháp sản xuất mới, nắm bắt nguồn cung cấp mới hoặc một tổ chức công nghiệp mới.

Wennekers và Thurik (1999) nhận định những doanh nhân theo quan điểm Schumpeter chủ yếu sở hữu và điều hành DN nhỏ. Kirzner (1979), miêu tả các doanh nhân người Áo như một chuyên gia phân tích, xác định cơ hội và tìm kiếm lợi nhuận. Kirzner cho rằng kiến thức phân bổ không đều giữa các các doanh nhân, và kết quả là thị trường sử dụng NL không hoàn hảo. Sự không phù hợp về kiến thức, thông tin và những khoảng trống mà những người khác chưa nhận thức và khai thác trong hoạt động KD đã biến hành những cơ hội lợi nhuận cho những cá nhân có kiến thức đặc biệt và độc đáo về sự khác biệt của thị trường.

Theo Kirzner, các doanh nhân là những người trong nền kinh tế khai thác những cơ hội lợi nhuận này. Vì vậy doanh nhân là những người nhận ra các cơ hội mang lại lợi nhuận từ những thay đổi không lường trước và thực hiện KSKD. Nhiều nhà nghiên cứu đã đầu tư thời gian và nỗ lực để tạo ra một bức tranh rõ nét Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 11 về đặc điểm và vai trò của doanh nhân. Một số đặc điểm của doanh nhân được xuất hiện trong các nghiên cứu như sau: Thứ nhất, doanh nhân là người chấp nhận rủi ro.

Cantillon (1755) (trích dẫn Murphy, 1989) nhấn mạnh tầm quan trọng của doanh nhân như là một chuyên gia phân tích, người thực hiện tất cả các trao đổi và chịu rủi ro do mua ở một số mức giá nhất định và bán ở những nơi không chắc chắn. Theo Cantillon, doanh nhân là người thông thái, thông minh và sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Carland và Stewart (1996) cho thấy xu hướng giảm rủi ro vẫn là một khía cạnh quan trọng của tâm lý doanh nhân, và cho rằng chấp nhận rủi ro là một yếu tố cơ bản trong hoạt động KD. Thứ hai, doanh nhân là người sáng tạo.

Quan điểm của Schumpeter về đổi mới KD bắt nguồn từ các lý thuyết cổ điển của các nhà kinh tế như Say và Marshall. Trong các nghiên cứu khác, đổi mới vẫn là một đặc điểm chức năng được xác định thường xuyên của các doanh nhân (Brockhaus, 1982; Gartner, 1990, McClelland, 1961; Timmons, 1978). Timmons (1978) cho rằng sự sáng tạo và đổi mới là những điều kiện vốn có của doanh nhân. Thứ ba, doanh nhân là những người có nhu cầu thành tích cao.

Nhu cầu thành tích cao là một đặc điểm phổ biến khác đã được xác định để mô tả doanh nhân (McClelland, 1961). McClelland (1961) kết luận rằng nhu cầu thành tích cao sẽ ảnh hưởng đến việc tự lựa chọn một vị trí KD. Nhiều nghiên cứu tiếp theo đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa nhu cầu thành tích cao và KSKD (Begley và Boyd, 1986; Davidsson, 1989). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy nhu cầu thành tích không phải là biến số quan trọng nhất để dự đoán khả năng KSKD (Hull và cộng sự,1980).

Thứ tư, doanh nhân là những cá nhân tạo nên sự khác biệt (Baron và Shane, 2005; Birley and Muzyka, 2000). Họ biến đổi một ý tưởng đơn giản, không rõ ràng thành một hoạt động KD. Họ có những cách riêng để đối phó với những cơ hội, những trở ngại và không chắc chắn để tạo ra các sản phẩm mới, dịch vụ mới, các tổ chức mới và những cách thức mới để thỏa mãn KH và làm tăng giá trị (Birley và Muzyka, 2000). Doanh nhân tiếp thu và sử dụng các NL để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng được KH và thị trường.

Giá trị được tạo ra thông qua quá trình chuyển đổi. Doanh nhân biến những ý tưởng của các nhà phát minh thành những sản phẩm thực tế để đáp ứng nhu cầu thị trường. Điều mà các nhà phát minh không thể thực hiện. Thứ năm, Doanh nhân là những cá nhân kết nối với nhau theo một mạng lưới (Zimmerer và Scarborough, 2005) được gọi là mạng lưới XH.

Hạn chế về NL, đặc biệt là nguồn tài chính tạo cho doanh nhân sử dụng mạng lưới XH để có được thông tin, sự Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh 12 ưu đãi, thỏa thuận và hành động. Mạng lưới XH giúp họ có sự hỗ trợ NL cho hoạt động KD. Bên cạnh đó, mạng lưới XH giúp họ có được sự ủng hộ và tư vấn để có sự lựa chọn cơ hội đúng. Nhận thức về doanh nhân là tạo ra và phát triển một DN mới và thành công.

Doanh nhân là nhân tố trung tâm của quá trình KSKD. Quá trình KSKD của doanh nhân là quá trình năng động, xuất phát từ ý chí của doanh nhân để nhận biết cơ hội, chấp nhận rủi ro, tạo giá trị thông qua việc phân bổ các kỹ năng và NL cần thiết. Như vậy, doanh nhân là người nhận ra cơ hội, có khả năng sáng tạo và các kỹ năng thực tiễn để biến cơ hội thành hoạt động KD thông qua thành lập DN mới thành công. Các hướng nghiên cứu KSKD của doanh nhân Với ý nghĩa KSKD là cần thiết đối với tăng trưởng kinh tế, ngày nay có rất nhiều nghiên cứu về KSKD với các mục tiêu và hướng nghiên cứu khác nhau.

Có thể tổng hợp các nghiên cứu KSKD của doanh nhân qua các giai đoạn của quá trình KSKD gồm các giai đoạn sau: dự định KSKD, quyết định KSKD và KSKD thành công. - Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân Các nghiên cứu về dự định KSKD của doanh nhân giải thích các nhân tố tác động đến ý định KSKD. Các nghiên cứu này tập trung giải thích các nhân tố tác động tới nhận thức và nảy sinh ý định KSKD của một cá nhân. Các mô hình nghiên cứu về ý định KSKD được ứng dụng từ mô hình hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) – TPB.

Lý thuyết về hành vi có kế hoạch cho rằng hành vi của con người là kết quả của dự định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ. Mô hình đề xuất 3 nhân tố tác động tới dự định KSKD là chuẩn mực xã hội, thái độ đối với hành vi và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi (Hình 1. Thái độ đối với hành vi Hành vi Chuẩn mực xã hội Dự định KSKD KSKD Cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ