Chương 1 giới thiệu và trình bày về tính cấp thiết của đề tài, đưa ra các mục tiêu nghiên cứu để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM, đặt ra các câu hỏi nhằm xác định đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và các ý nghĩa thực tiễn của khóa luận. Ở cuối chương trình bày sơ bộ về bố cục nghiên cứu của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Định nghĩa rủi ro tín dụng Trong các loại rủi ro của hoạt động cấp tín dụng, có thể nói RRTD chiếm một vị trí quan trọng trong bậc nhất bởi tính phổ biến và hậu quả của nó.
Theo ủy ban Basel, RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc là bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Theo định nghĩa này thì RRTD không phải chỉ có trong hoạt động cấp tín dụng, mà hiểu rộng hơn có thể xem RRTD là loại rủi ro đối tác. Theo đó rủi ro đối tác bao gồm trong đó có nhiều loại từ RRTD trong quan hệ giữa ngân hàng cho vay và người đi vay, rủi ro trong các hợp đồng phái sinh mà ngân hàng tham gia, rủi ro trong việc ngân hàng đầu tư chứng khoán. thông qua biến cố vi phạm/ phá vỡ cam kết hợp đồng từ phía khách hàng, gây bất lợi cho ngân hàng.
Tuy nhiên, giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hoạt động cấp tín dụng, thì RRTD được hiểu là: khả năng xảy ra tổn thất thiệt hại cho NH, khi khách hàng (bên nhận tín dụng) vi phạm cam kết: không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả gốc và lãi cho NH cấp tín dụng. Theo Yurdakul (2014) rủi ro tín dụng chủ yếu đề cập đến khả năng thua lỗ của ngân hàng do người đi vay không thể thực hiện đúng hạn hoặc hoàn thành các nghĩa vụ mà họ đã đảm nhận như một phần trong hợp đồng với ngân hàng. Theo Ahmad Badawi (2017), rủi ro tín dụng là rủi ro do con nợ và/hoặc các bên khác không thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng. RRTD thường được tìm thấy trong tất cả các hoạt động của ngân hàng mà hiệu suất của nó phụ thuộc vào hoạt động của đối tác, tổ chức phát hành hoặc hoạt động của người đi vay.
Theo Vương Quốc Duy (2020), rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng, rủi ro tín dụng mang 7 tính gián tiếp và xuất phát từ sự sai hẹn của khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng cho vay. Theo Basel Committee on Banking Supervision II được ủy ban Basel ban hành vào tháng 9/2000: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa đơn giản nhất là khả năng người vay ngân hàng hoặc đối tác không đáp ứng được các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận”. Tại Việt Nam căn cứ Khoản 8 Điều 3 Thông tư 14/2023/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 01/10/2024) quy định rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Nhìn chung, rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của NHTM là việc không đảm bảo về khả năng đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng theo những điều kiện đã thoả thuận của người được cấp tín dụng.
Nguồn thu lợi nhuận của NHTM chủ yếu dựa vào hoạt động tín dụng, do đó rủi ro tín dụng là khó tránh khỏi. Có thể nói rằng hoạt động tín dụng tại các NHTM bị xếp vào loại rủi ro. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng phải đánh giá mức độ rủi ro có thể gánh chịu dựa trên mục tiêu và chiến lược kinh doanh riêng trong từng thời kỳ. Phân loại rủi ro tín dụng Theo Bùi Diệu Anh (2020) “Căn cứ vào cấu trúc thành phần, có thể phân biệt rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng thành hai loại rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Sơ đồ phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro lựa chọn Rủi ro giao dịch Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp Rủi ro tín dụng vụ Rủi ro nội tại Rủi do danh mục Rủi ro tập trung Theo Bùi Diệu Anh (2020) đã định nghĩa về các loại rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro giao dịch: là thuật ngữ chỉ những vấn đề có thể phát sinh khi ngân hàng và khách hàng giao dịch, đặc biệt khi cấp vốn cho khách hàng. Có ba loại rủi ro chính trong giao dịch:” “Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến khâu thẩm định và phân tích khách hàng trước khi ra quyết định cấp tín dụng. Khi tiếp nhận một đề nghị vay từ phía khách hàng, do hiện tượng thông tin bát cân xứng ngân hàng luôn luôn phải đứng trước một sự lựa chọn bất lợi: đó là khả năng chấp thuận một khách hàng xấu, một khoản vay có độ an toàn thấp đồng thời với việc loại bỏ một khách hàng tốt, một khoản vay có độ an toàn cao. Sự lựa chọn không đúng là một trong các nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc ngân hàng phải đương đầu với khả năng không thu được vốn ban đầu.” 9 “Rủi ro đảm bảo: xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo cho sự an toàn của một khoản tín dụng được ngân hàng chấp thuận.
Đó là các tiêu chuẩn về tài sản đảm bảo, về vốn đối ứng mà khách hàng vay phải có, về những thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay… Những điều kiện này tạo tiền đề cho một mối quan hệ chặt chẽ, đầy đủ cơ sở pháp lý nhằm bảo về quyền lợi cho ngân hàng trong trường hợp xảy ra tranh chấp say này. Mặt khách chúng cũng tạo ra những rào cản kỹ thuật buộc khác hàng vay phải tuân thủ những thỏa thuận với ngân hàng trong quan hệ tín dụng ngăn chặn những hành vi gây bất lợi cho ngân hàng xuất phát từ rủi ro đạo đức của người vay.” “Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến những tác nghiệp trong quá trình thực hiện giao dịch tín dụng chẳng hạn như: việc thiết lập và thực hiện một quy trình cấp tín dụng chặt chẽ, trải qua nhiều bước liên hoàn kể từ khi khách hàng đệ trình đề nghị vay vốn cho đến khi khoản tín dụng đó kết thúc đúng như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; việc quy định và thực hiện các bước kiểm soát trong và sau khi cho vay thông qua quy trình giải ngân, quy trình xử lý nợ có vấn đề. Những sai sót trong qua trình tác nghiệp có thể làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro và mức độ tổn thất trong quá tình thực hiện một khoản tín dụng.” “Rủi ro danh mục: là rủi ro gắn liền với một danh mục cho vay thiếu hiệu quả của ngân hàng thương mại. Hậu quả của nó có thể làm cho hoạt động cho vay của NHTM thiếu an toàn, giảm sút lợi nhuận, tổn thất cho vay vượt quá giới hạn chịu đựng của ngân hàng.
Rủi ro danh mục bao gồm hai phần là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.” “Rủi ro nội tại xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể vay vốn, mỗi ngành kinh tế, mỗi hình thức, phương thức cấp tín dụng. Có thể nói rủi ro nội tại có tính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó thuộc về bản tính vốn có của đối tượng mà ngân hàng đầu tư, các biện pháp của ngân hàng chỉ có thể giúp kiểm soát từ đó hạn chế nó.” “Rủi ro tập trung là loại rủi ro xuất phát từ sự thiếu đa dạng trong danh mục tín dụng của ngân hàng, đi ngược lại nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh tiền 10 tệ. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel “rủ ro tập trung là bất kì rủi ro đơn lẻ hoặc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn liên quan đến mức vốn của ngân hàng, tài sản có của ngân hàng hoặc tổng tổn thất của ngân hàng”. Nhận xét về tầm quan trọng của rủi ro tập trung, ủy ban Basel cũng nhận định “Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của hầu hết các ngân hàng nên RRTD tập trung cũng là loại rủi ro tập trung cơ bản nhất trong phạm vi của một ngân hàng”.
Có thể nhận biết về rủi ro tập trung của một ngân hàng thông qua phân tích cơ cấu danh mục tín dụng của họ. Việc Tuân thủ các giới hạn tối đa tỏng cấp tín dụng đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng, từng khu vực ngành kinh tế. cho thấy mức độ tập trung hay phân tán đa dạng hóa của danh mục tín dụng. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Theo Ghosh (2012) các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín đụng đến từ: “Các yếu tố bên ngoài như tình hình kinh tế bị suy thoái và các diễn biến bất lợi trên thị trường nước ngoài đã tác động tiêu cực hoạt động kinh doanh của người vay, dẫn đến giảm thu nhập và suy giảm khả năng trả nợ.
Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài như thay đổi trong chính sách tài khóa và ngân sách của chính phủ, sự mở cửa của chính sách nhập khẩu và xuất khẩu, áp đặt hạn chế và trừng phạt thương mại hoặc diễn biến tiêu biểu trên thị trường tài chính ảnh hưởng đến chất lượng của danh mục tín dụng của các ngân hàng, làm tăng rủi ro tín dụng ngân hàng. Tín dụng cho hoạt động sản xuất, giao dịch hàng hóa và dịch vụ chiếm phần lớn danh mục tín dụng của các ngân hàng. Việc các doanh nghiệp quản lý tài chính không hiệu quả, thiếu sót trong quản trị doanh nghiệp và quản lý dự án đã làm cho rủi ro tín dụng mà các ngân hàng phải đối mặt càng cao hơn. Sự suy giảm hiệu suất sản xuất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp đến từ sự thiếu kinh nghiệm quản lý, quy trình sản xuất không hiệu quả đã gây ra sự thiếu hụt về nhu cầu về hàng hóa, cùng với đó chất lượng dịch vụ đi xuống cũng làm cho tình hình doanh nghiệp trở nên tồi tệ hơn.
Do đó, thu nhập của doanh nghiệp bị giảm, làm suy giảm dòng tiền và giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp. 11 Sự không trung thực của người vay cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng.