chương 1 đã trình bày đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài, và kết thúc chương này sẽ trình bày kết cấu tổng thể của luận văn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VIỆC GỬI TIỀN TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng 2.1 Khái niệm liên quan đến gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012), tiền gửi tiết kiệm là một loại tiền gửi dành cho các đối tượng thuộc mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội được bắt nguồn từ tiền không sử dụng đến gửi vào ngân hàng với mong muốn để sinh lời trong một thời gian nhất định. Đây là nguồn vốn nhàn rỗi của các tầng lớp khác nhau nhưng đặc biệt quan trọng mà các ngân hàng TMCP đều muốn thu hút được và mở rộng quy mô huy động, phát triển sản phẩm đa dạng cùng với lãi suất hấp dẫn vì các NHTM xem nguồn vốn này là chủ yếu.
Theo Trần Huy Hoàng (2012), Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền gửi thuộc nhiều đối tượng dân cư khác nhau gửi vào ngân hàng nhằm mục đích an toàn tài sản, sinh lời và để dành. Dựa theo quy định số 48/2018/TT-NHNN về tiền gửi tiết kiệm do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì tiền gửi tiết kiệm là món tiền của một cá nhân đến ngân hàng để gửi món tiền này bằng tài khoản tiết kiệm được mở tại ngân hàng và được xác nhận trên thẻ tiết kiệm của người gửi, được hưởng lãi suất theo đúng quy định của tổ chức tín dụng nhận tiền gửi, được bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Về cơ bản, đây là một khoản tiền nhàn rỗi chưa được họ sử dụng và muốn sinh lợi từ khoản tiền này một cách an toàn, không rủi ro và hưởng lãi suất theo quy định. Do đó, họ sẽ gửi số tiền này vào ngân hàng.
Về hình thức sẽ được cấp một cuốn sổ để chứng nhận số tiền đã gửi và theo dõi dòng tiền hoặc rút ra (tất toán). Cuốn sổ này xem như một tài sản có thể thế chấp hay cầm cố để vay vốn. Các tài khoản tiền gửi của khách hàng tại NHTM đã đóng một vai trò đặc biệt và hữu ích trong việc giúp họ thực hiện hành vi tiết kiệm và hình thành một quỹ với một số tiền tích góp nhất định để sử dụng cho những trường hợp khẩn cấp (Brobeck, 2013). Từ điển tài chính ngân hàng Collin (Collins Dictionary of Banking and Finance) mô tả tài khoản tiết 9 kiệm là một tài khoản mà khách hàng gửi tiền vào thường xuyên và được NH trả lãi, thường ở mức cao hơn tài khoản tiền gửi thanh toán (Sarmah, 2015) 2.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng Dựa theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền mà người gửi có thể rút ra theo nhu cầu của bản thân mà không cần báo trước cho tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm vào bất kỳ ngày làm việc nào.
Ngân hàng sẽ cất giữ, bảo quản hộ, tích lũy tài sản và người gửi thường trả lệ phí cho ngân hàng, nhưng do tính chất cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước. Và để hoạt động một cách hiệu quả hơn nên các ngân hàng sẽ hỗ trợ khoản tiền phí (miễn phí) cho khách hàng. Vì thế, nguồn tiền này được sử dụng một phần, phần còn lại được dùng để bảo đảm thanh toán cho khách hàng. Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền mà người gửi tiền phải tuân theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định.
Khách hàng gửi tiền tại thời điểm mở sổ lần đầu và rút gốc, tiền lãi trả vào đúng thời điểm đáo hạn của sổ tiết kiệm. Khi khách hàng muốn đầu tư để hưởng lãi suất thì sẽ mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, vì thế lãi suất của nguồn này tương đối cao, nhưng lại ít rủi ro. Phiếu tiết kiệm, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá, tiết kiệm nhà ở… là các hình thức thường thấy. Nếu muốn cất trữ hay thanh toán thì sẽ mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012), tiền gửi tiết kiệm được phân thành tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn (1 tuần, 3 tháng, 36 tháng, …) Tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi mà người gửi tiền tự do giao dịch nộp và rút tiền khỏi tài khoản nhiều lần (không giới hạn số lần gửi, rút). Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn dành cho đối tượng khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi, nhưng muốn an toàn vốn cao hơn so với nhu cầu sinh lời. Đối với loại sản phẩm này thì khách hàng thực hiện các giao dịch gửi tiền và rút tiền, mỗi lần giao dịch rút tiền khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và không được dùng để thanh toán như tiền gửi thanh toán. 10 Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi mà ở đó có sự cam kết gửi giữa Ngân hàng và khách hàng trong một thời hạn nhất định.
Mỗi tài khoản ứng với 1 giao dịch gửi tiền và 1 giao dịch rút tiền (lúc mở và lúc tất toán). Nếu Khách hàng muốn gửi thêm tiền vào tài khoản tiết kiệm thì lập sổ tiết kiệm khác, Ngân hàng mở tài khoản tiết kiệm khác cho khách hàng. Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng tiền cần phải rút tiền (trước hạn hoặc đúng hạn), thì chỉ được rút một lần và phải rút toàn bộ số tiền đã gửi, sau đó phải tất toán ngay sổ tiết kiệm tại thời điểm giao dịch (theo quy định của từng sản phẩm). Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn và sinh lợi trong đó nhu cầu sinh lời đóng vai trò quan trọng.
Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Tuy nhiên, nhằm để thu hút và giữ chân khách hàng gửi tiền, nhưng khi khách hàng có mong muốn rút tiền trước hạn sẽ được các ngân hàng hỗ trợ và chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn, hoặc lãi suất kỳ hạn theo thời hạn gửi thực tế. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012), tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là sản phẩm được hướng tới nhóm đối tượng khách hàng là cá nhân hoặc tổ chức nào đó đang có khoản tiền nhàn rỗi, chưa cần sử dụng tới mong muốn gửi vào ngân hàng với mục tiêu an toàn và sinh lợi khi không có dự định sử dụng dòng tiền này trong tương lai. Khách hàng sử dụng sản phẩm này được rút ra bất cứ khoảng thời gian nào.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền dành cho các cá nhân hay tổ chức có dự định sử dụng dòng tiền này trong khoảng thời gian tới. Chủ yếu đối tượng sử dụng sản phẩm này là những cá nhân có nguồn tài chính ổn định, muốn sinh lời theo định kỳ nên lãi suất cực kỳ hấp dẫn để thu hút được nhóm đối tượng này. Tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm của KHCN Theo Nguyễn Đăng Dờn (2012), nghiệp vụ rất quan trọng của ngân hàng có tác động đến chất lượng hoạt động ngân hàng không thể không nói đến là nghiệp vụ huy động vốn tuy 11 không mang lại nguồn lợi nhuận trực tiếp nhưng có ý nghĩa rất sâu sắc đối với ngân hàng cũng như với khách hàng. Nếu như không có nghiệp vụ huy động vốn thì không thể vận hành được NHTM.
Để thực hiện được các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như cấp tín dụng và các dịch vụ khác cần phải có vốn, để có được vốn thì phải huy động từ khách hàng. Ngân hàng phải chủ động hơn nữa trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng, tạo uy tín cho ngân hàng ngày càng cao sẽ thu hút được nghiệp vụ huy động vốn. Đối với ngân hàng thương mại Đối với các khoản tiền gửi tiết kiệm dành cho khách hàng cá nhân cũng được xem là một thước đo vô cùng quan trọng về sự chấp thuận của dân chúng về Ngân hàng. Ngân hàng sẽ chứng minh được uy tín và hình ảnh, khi có được nhiều khách hàng gửi tiền và biết đến.
Khi khách hàng đã hoàn toàn tin tưởng đến các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng, khách hàng sẽ tự lan tỏa sự hài lòng ấy đến với những cá nhân khác. Từ đó, hình ảnh và uy tín của ngân hàng sẽ ngày gia tăng, sản phẩm sẽ nhanh chóng tiếp cận nhanh đến thị trường hơn, ngân hàng cũng có được những đối tượng khách hàng tiềm năng trong tương lai. Để NHTM thực hiện được qui mô kinh doanh rộng và lớn, huy động vốn tiền gửi tiết kiệm là điều tiên quyết đầu tiên, tác động trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Thiếu vốn NHTM sẽ không vận hành, tài trợ được hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên việc thu hút được vốn giúp cho NHTM thuận tiện đẩy nhanh nghiệp vụ cho vay, đạt lợi nhuận cao hơn.
Đối với khách hàng Là một nơi cung cấp cho khách hàng cất trữ tiền tệ vừa an toàn vừa sinh lời. Huy động tiền gửi KHCN là một kênh đầu tư truyền thống không những quan trọng với các NHTM mà còn có ý nghĩa quan trọng với khách hàng. Qua đó để gia tăng mức tiêu dùng trong tương lai cho khách hàng được hưởng lãi từ tiền gửi. Ngoài để gửi tiết kiệm vào ngân hàng còn giúp khách hàng tiếp xúc với nhiều dịch vụ khác của ngân hàng như: thanh toán điện nước thông qua ngân hàng, nhu cầu sử dụng vốn thông 12 qua dịch vụ cho vay, ủy quyền, giúp khách hàng giảm thiểu chi phí đi lại, thời gian và nhân lực.
Các lý thuyết liên quan về việc gửi tiền tiết kiệm của khách hàng 2. Khái niệm hành vi khách hàng Hành vi khách hàng hay còn gọi là hành vi tiêu dùng, là chỉ cụ thể hành động một cá nhân khi đưa ra phương thức mua, sử dụng và xử lý sản phẩm cũng như dịch vụ (Kotler, 1999).