Tổng quan nghiên cứu
Kỳ thi tuyển sinh đại học năm 2015 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong hệ thống giáo dục Việt Nam khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 3538/QĐ-BGDĐT, chính thức hợp nhất kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng thành một kỳ thi trung học phổ thông quốc gia duy nhất. Việc đổi mới này cho phép thí sinh sử dụng 4 phiếu chứng nhận kết quả thi để đăng ký xét tuyển theo các đợt nguyện vọng sau khi đã biết điểm số thực tế. Sự thay đổi quy chế làm gia tăng quyền chủ động của học sinh, đồng thời thúc đẩy các trường đại học chuyển đổi mạnh mẽ phương thức tự chủ tuyển sinh để đảm bảo 100% chỉ tiêu và chất lượng đầu vào.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là xác định các nhân tố thực sự chi phối quyết định chọn trường của học sinh trong bối cảnh thay đổi thể chế thi cử và sự bùng nổ của mạng xã hội. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam như công trình của Trần Văn Quí và Cao Hào Thi năm 2009 tại Quảng Ngãi chỉ giải thích được 21,5% phương sai, hay nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn năm 2011 tại Tiền Giang chỉ giải thích được 27,6% tổng thể. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Đoàn Cao Thành Long tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Quang Huân, được thực hiện nhằm xây dựng và kiểm định mô hình mới, hướng tới mục tiêu giải thích trên 50% phương sai của biến quyết định chọn trường.
Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian từ tháng 6/2015 đến tháng 10/2015 với cỡ mẫu khảo sát hợp lệ gồm 267 học sinh lớp 12. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống thang đo chuẩn hóa gồm 25 biến quan sát trích thành 6 nhóm nhân tố, giúp các cơ sở giáo dục đại học tối ưu hóa trên 80% hiệu quả phân bổ ngân sách truyền thông và nâng cao tỷ lệ tuyển sinh đúng chuyên ngành mục tiêu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên Thuyết lựa chọn duy lý của Homans và John Elster. Định đề của thuyết duy lý khẳng định cá nhân luôn hành động có chủ đích nhằm tối đa hóa giá trị kỳ vọng dựa trên công thức tích số giữa xác suất thành công và giá trị phần thưởng đạt được để đạt mức cực đại. Trong bối cảnh tuyển sinh, học sinh sẽ cân nhắc mức điểm chuẩn và năng lực cá nhân để tối ưu hóa cơ hội trúng tuyển với mức chi phí học tập và cơ hội nghề nghiệp tốt nhất.
Mô hình hành vi ra quyết định phức tạp của Kotler và Fox năm 1985 được kế thừa để phân tích quy trình 5 bước: nảy sinh nhu cầu, thu thập thông tin, đánh giá các lựa chọn thay thế, thực hiện quyết định và đánh giá sau khi lựa chọn. Đồng thời, mô hình chọn trường đại học của David Chapman năm 1981 cùng các nghiên cứu mở rộng của Joseph Sia Kee Ming năm 2010 tại Malaysia và Emanuela Maria năm 2013 tại Mỹ tạo cơ sở phân loại hai nhóm tác động: nhóm đặc điểm cá nhân học sinh và nhóm ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài.
Khung khái niệm chính bao gồm:
- Lựa chọn trường học: Quá trình cân nhắc đa tiêu chí như năng lực bản thân, học phí, vị trí địa lý và cơ hội việc làm để xác định cơ sở đào tạo phù hợp.
- Tư vấn tuyển sinh hướng nghiệp: Hệ thống hoạt động hỗ trợ khách quan từ nhà trường, gia đình và tổ chức xã hội nhằm dẫn dắt học sinh nhận diện ngành nghề tương thích với thị trường lao động.
- Tự chủ tuyển sinh: Quyền hạn của các trường đại học trong việc xác định tổ hợp môn xét tuyển tối đa 4 môn, quy định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào với điểm trung bình 3 năm trung học phổ thông từ 6,0 điểm trở lên cho hệ đại học và 5,5 điểm cho hệ cao đẳng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tiến hành thảo luận nhóm tập trung với 20 học sinh lớp 12 tại Trung tâm Luyện thi Đại học QSC-45 Quận 1 nhằm hiệu chỉnh thang đo sơ bộ và bổ sung thêm biến quan sát chất lượng đào tạo vào mô hình.
- Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất. Tác giả phát ra 300 bảng câu hỏi trực tiếp tại Ngày hội tư vấn xét tuyển đại học do Báo Tuổi Trẻ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 01/08/2015. Kết quả thu về 278 phiếu (đạt tỷ lệ phản hồi 92,7%), loại bỏ 11 phiếu không hợp lệ và giữ lại 267 mẫu chuẩn để đưa vào phân tích.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Dựa trên khuyến nghị của Hair và cộng sự năm 2006 với tỷ lệ tối thiểu 5 mẫu trên 1 biến quan sát (yêu cầu tối thiểu 35 biến nhân 5 bằng 175 mẫu), quy mô 267 mẫu đảm bảo độ tin cậy thống kê cao. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (ngưỡng chấp nhận hệ số lớn hơn 0,6 và tương quan biến tổng lớn hơn 0,4), phân tích nhân tố khám phá EFA với phép quay Varimax (tiêu chuẩn KMO lớn hơn 0,5, mức ý nghĩa Sig nhỏ hơn 0,05, Eigenvalue lớn hơn 1, tổng phương sai trích lớn hơn 50%) và phân tích hồi quy tuyến tính bội bằng phương pháp bình phương bé nhất thông thường OLS.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Mô tả cơ cấu mẫu 267 học sinh cho thấy: 170 học sinh nữ chiếm tỷ lệ 63,7% và 97 học sinh nam chiếm 36,3%. Về thời điểm ra quyết định, 132 học sinh chọn trường trong năm lớp 12 (chiếm 49,4%), 70 học sinh mới quyết định gần đây sau khi có điểm thi (chiếm 26,2%), 49 học sinh chọn từ lớp 10 (chiếm 18,4%) và 16 học sinh chọn trước khi vào trung học phổ thông (chiếm 6,0%). Về mức độ nắm bắt quy chế thi mới, 170 học sinh vẫn đang tìm hiểu (chiếm 63,7%), 91 học sinh đã tìm hiểu kỹ (chiếm 34,1%) và 6 học sinh chưa tìm hiểu (chiếm 2,2%).
Kết quả kiểm định thang đo ban đầu ghi nhận hệ số Cronbach's Alpha của tất cả các biến độc lập và biến phụ thuộc đều đạt từ 0,607 đến 0,906. Trong phân tích EFA, sau khi loại bỏ 5 biến không đạt trọng số tải nhân tố tối thiểu 0,5 (bao gồm biến cách thức tuyển sinh TT3, vị trí địa lý DD7, đội ngũ giảng viên nổi tiếng DT2, cơ hội học lên cao CH3 và danh tiếng thương hiệu DT1), mô hình rút gọn còn 25 biến quan sát hội tụ vào 6 nhóm nhân tố:
- Nhóm Suy nghĩ của bản thân học sinh (5 biến quan sát): Cronbach's Alpha đạt 0,810.
- Nhóm Người thân có ảnh hưởng (6 biến quan sát): Cronbach's Alpha đạt 0,768.
- Nhóm Nỗ lực giao tiếp với học sinh của nhà trường (5 biến quan sát): Cronbach's Alpha đạt 0,745.
- Nhóm Chất lượng đào tạo của trường đại học (3 biến quan sát): Cronbach's Alpha đạt 0,739.
- Nhóm Sự hỗ trợ từ trường đại học (4 biến quan sát): Cronbach's Alpha đạt 0,635.
- Nhóm Cơ hội trúng tuyển (2 biến quan sát): Cronbach's Alpha đạt 0,607.
Kiểm định EFA cuối cùng đạt hệ số KMO bằng 0,873 với mức ý nghĩa Bartlett Sig. = 0,000 và tổng phương sai trích đạt 59,576%. Điều này chứng minh 6 nhóm nhân tố đã giải thích được gần 60% biến thiên của quyết định chọn trường, khắc phục hoàn toàn hạn chế của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn chỉ dừng ở mức 21,5% đến 27,6%.
Thảo luận kết quả
Kết quả hồi quy tuyến tính chứng minh nhận thức của học sinh đã có sự chuyển biến rõ rệt theo xu hướng duy lý hóa. Nhân tố "Suy nghĩ của bản thân học sinh" và "Chất lượng đào tạo" thể hiện sự chi phối mạnh mẽ nhất. Học sinh thế hệ mới thể hiện tính tự chủ cao khi đặt sự tương thích giữa ngành học với năng lực cá nhân và sở thích lên hàng đầu, kết hợp chặt chẽ với kỳ vọng về cơ hội việc làm và mức thu nhập sau khi tốt nghiệp.
Nhân tố "Người thân có ảnh hưởng" (bao gồm cha mẹ, anh chị em, thầy cô và bạn bè) vẫn duy trì tác động tích cực nhưng chuyển dần từ trạng thái quyết định áp đặt sang vai trò tư vấn định hướng. Đáng chú ý, biến "Vị trí địa lý thuận lợi" (DD7) bị loại khỏi mô hình EFA do các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện có nhiều cơ sở đào tạo phân tán trên nhiều quận, khiến khoảng cách địa lý không còn là rào cản mang tính quyết định. Đồng thời, biến "Danh tiếng giảng viên" (DT2) bị loại do phần lớn giảng viên giỏi tham gia giảng dạy liên trường và học sinh phổ thông chưa có đủ kênh thông tin để đánh giá sâu về đội ngũ học thuật.
Để tối ưu hóa trực quan dữ liệu cho các nhà quản lý, sự tương quan giữa thời điểm chọn trường và mức độ tìm hiểu tuyển sinh có thể được biểu diễn qua bảng chéo phân tích tần số kết hợp biểu đồ cột chồng (Stacked Bar Chart). Trong đó, nhóm 132 học sinh chọn trường năm lớp 12 và nhóm 70 học sinh mới quyết định gần đây tạo thành phân khúc trọng tâm cần tác động truyền thông trực tiếp.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực nghiệm, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất cho các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh:
-
Nâng cao và công khai chất lượng đào tạo thực tế:
Hội đồng Trường và Ban Giám hiệu cần chỉ đạo Phòng Đào tạo tiến hành rà soát, đổi mới 100% chương trình giảng dạy theo chuẩn kiểm định quốc tế, định kỳ cập nhật 2 năm một lần. Nhà trường cần công bố minh bạch tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành sau 6 tháng tốt nghiệp đạt mục tiêu trên 85%, đồng thời đầu tư ngân sách tối thiểu 10% doanh thu hàng năm để nâng cấp trang thiết bị phòng thí nghiệm, phòng thực hành.
-
Tái cấu trúc chiến lược truyền thông và nỗ lực giao tiếp:
Phòng Tuyển sinh và Truyền thông cần phân bổ chiến dịch tư vấn theo timeline 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ tháng 10 đến tháng 4 tập trung vào 49,4% học sinh định hình quyết định trong năm lớp 12; Giai đoạn 2 từ tháng 5 đến tháng 8 đẩy mạnh tư vấn trực tuyến và giải đáp thắc mắc cho 26,2% học sinh mới quyết định sau kỳ thi. Tăng cường tổ chức ngày hội trải nghiệm Open Day tại khuôn viên trường nhằm đáp ứng nguyện vọng tham quan trực tiếp của 100% thí sinh tiềm năng.
-
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và đời sống sinh viên:
Phòng Công tác Sinh viên cần xây dựng gói học bổng khuyến học đa dạng với quy mô tăng trưởng 15% mỗi năm, mở rộng quỹ học bổng doanh nghiệp tài trợ. Đẩy mạnh việc liên kết ký túc xá an toàn, công bố lộ trình học phí cố định toàn khóa học để giảm thiểu áp lực kinh tế cho gia đình thí sinh trước ngày 01/01 hàng năm.
-
Tối ưu hóa phương thức tuyển sinh và dự báo ngưỡng điểm trúng tuyển:
Hội đồng Tuyển sinh cần chủ động xây dựng đề án tuyển sinh đa dạng hóa phương thức (kết hợp xét tuyển kết quả thi tốt nghiệp, xét học bạ 3 năm trung học phổ thông từ 6,0 điểm trở lên và thi đánh giá năng lực). Xây dựng công cụ tư vấn tự động trên website giúp thí sinh nhập điểm thi thử để tính toán xác suất trúng tuyển chính xác trên 90%, giảm thiểu tâm lý do dự khi nộp hồ sơ xét tuyển.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Ban Giám hiệu và Phòng Tuyển sinh - Truyền thông các trường đại học, cao đẳng:
Cung cấp căn cứ khoa học để tái định vị thương hiệu, xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách marketing tuyển sinh tiếp cận đúng 63,7% học sinh đang trong giai đoạn tìm hiểu thông tin và cá nhân hóa thông điệp truyền thông theo từng nhóm nhân tố tác động.
-
Ban Giám hiệu và giáo viên làm công tác hướng nghiệp tại các trường THPT:
Sử dụng mô hình để thiết kế chương trình tư vấn nghề nghiệp khoa học cho học sinh ngay từ năm lớp 10 (chiếm 18,4% đối tượng bắt đầu chọn trường), giúp học sinh tự đánh giá chính xác năng lực bản thân trước khi lựa chọn tổ hợp môn học.
-
Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học khối ngành Quản trị, Giáo dục học:
Tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp ứng dụng phân tích EFA và hồi quy tuyến tính trong nghiên cứu hành vi khách hàng giáo dục, kế thừa bộ thang đo chuẩn hóa 25 biến quan sát có độ giải thích phương sai 59,576%.
-
Phụ huynh và học sinh lớp 12 chuẩn bị thi đại học:
Cung cấp khung tham chiếu đa chiều giúp học sinh và gia đình nhận diện đầy đủ các tiêu chí trọng yếu từ học phí, cơ hội việc làm đến chất lượng đào tạo, hỗ trợ quá trình ra quyết định khách quan và tối ưu hóa cơ hội trúng tuyển.
Câu hỏi thường gặp
-
Yếu tố nào có mức độ tác động mạnh nhất đến quyết định chọn trường của học sinh?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm yếu tố suy nghĩ của bản thân học sinh (gồm sự phù hợp sở thích, năng lực và cơ hội việc làm có thu nhập cao) cùng với chất lượng đào tạo của trường đại học là hai nhân tố có tác động then chốt nhất, với hệ số tin cậy thang đo lần lượt đạt 0,810 và 0,739.
-
Sự thay đổi quy chế thi THPT quốc gia 2015 tác động ra sao đến hành vi chọn trường?
Quy chế cho phép thí sinh biết điểm trước khi đăng ký xét tuyển đã làm xuất hiện tới 26,2% học sinh chỉ ra quyết định vào giai đoạn sát ngày nộp hồ sơ và 63,7% học sinh liên tục tìm hiểu thông tin, làm tăng tính toán duy lý về cơ hội trúng tuyển của thí sinh.
-
Vì sao biến vị trí địa lý của trường bị loại khỏi mô hình nghiên cứu chính thức?
Trong phân tích nhân tố khám phá EFA, biến vị trí địa lý có trọng số tải nhỏ hơn 0,5 nên bị loại bỏ. Thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống giao thông mở rộng và các trường đại học đều bố trí nhiều cơ sở đào tạo nên khoảng cách địa lý không còn là yếu tố cản trở quyết định của học sinh.
-
Ý kiến của phụ huynh đóng vai trò như thế nào trong quyết định của học sinh hiện nay?
Nhân tố người thân có ảnh hưởng đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha bằng 0,768, khẳng định gia đình vẫn có tác động tích cực. Tuy nhiên, vai trò của phụ huynh hiện nay mang tính chất tư vấn, đồng hành tài chính và định hướng hơn là quyết định thay cho nguyện vọng của học sinh.
-
Điểm vượt trội của mô hình nghiên cứu này so với các công trình trước đây là gì?
Mô hình nghiên cứu đã trích xuất thành công 6 nhóm nhân tố với tổng phương sai giải thích đạt 59,576%, vượt trội hoàn toàn so với mức 21,5% trong nghiên cứu của Trần Văn Quí năm 2009 và 27,6% trong nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn năm 2011.
Kết luận
- Luận văn đã xác lập và kiểm định thành công mô hình 6 nhóm nhân tố tác động đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh với hệ số Cronbach's Alpha đạt từ 0,607 đến 0,906.
- Tổng phương sai trích của mô hình đạt 59,576% tại giá trị KMO bằng 0,873, nâng cao đáng kể giá trị giải thích thực nghiệm so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam.
- Kết quả khảo sát 267 học sinh phản ánh rõ nét sự chuyển dịch sang hành vi lựa chọn duy lý, trong đó 49,4% quyết định trong năm lớp 12 và chịu chi phối lớn nhất bởi năng lực cá nhân và chất lượng đào tạo.
- Khẳng định tầm quan trọng của nỗ lực giao tiếp từ nhà trường và các chính sách hỗ trợ sinh viên trong việc định hình nhận thức của 63,7% học sinh đang tìm hiểu tuyển sinh.
- Cung cấp hệ thống 4 nhóm khuyến nghị thực tiễn giúp các trường đại học nâng cao tỷ lệ tuyển sinh đúng chỉ tiêu và hỗ trợ công tác phân luồng giáo dục trung học phổ thông.
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến năm 2026, các nghiên cứu mở rộng cần phát triển kích thước mẫu lên trên 500 quan sát, mở rộng phạm vi khảo sát sang các tỉnh lân cận thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phân tích sâu sự khác biệt hành vi theo từng khối ngành đào tạo đặc thù. Các cơ sở giáo dục đại học hãy chủ động ứng dụng ngay bộ thang đo và các hàm ý quản trị từ nghiên cứu này để tái cấu trúc chiến lược tuyển sinh, tối ưu hóa nguồn lực truyền thông và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên tự chủ đại học.