Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Ngân hàng trực tuyến Theo Alkailani (2016), NHTT là một khái niệm mới vể thực hiện các giao dịch ngân hàng và đã nhận được sự quan tâm của nhiều ngân hàng. NHTT là một sự thay thế cho ngân hàng truyền thống, nó là một hệ thống chưa hàm lượng thông tin cao, phụ thuộc nhiều vào yếu tố công nghệ và Internet để thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính cho người dùng dịch vụ.
Ở một cách tiếp cận khác, Chau & Lai (2003) và DeYoung et al. (2007) cho rằng, NHTT là một công cụ tiếp thị để thu hút và giữ chân khách hàng, mở rộng phạm vi tiếp cận thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ, do đó mức độ và cường độ của các sản phẩm và dịch vụ NHTT có thể có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tổng thể của ngân hàng. Chính vì thế, người ta tin rằng NHTT có vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự hài lòng của khách hàng bởi nó có thể cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng, thuận tiện và dễ dàng hơn. Ý định hành vi và hành vi lựa chọn Theo lý thuyết TPB của Ajzen (1991), ý định hành vi đề cập đến các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến một hành vi nhất định của con người.
Khi ý định thực hiện hành vi càng mạnh mẽ thì hành vi đó càng có nhiều khả năng được thực hiện hơn. Hành vi lựa chọn mô tả các phản ứng của con người khi đưa ra quyết định lựa chọn trong số các phương án được lựa chọn để hành động (Van Wingerden & Kalenscher, 2022). Trong đó, hành vi lựa chọn của con người được tính từ quá trình ra quyết định phức tạp, có ý thức cho đến những phán đoán nhanh chóng. Có hai nhóm yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn của con người: (1) Giá trị, mục tiêu và động cơ đánh giá các lựa chọn thay thế; (2) Thái độ về các lựa chọn thay thế liên quan đến các giá trị.
Một khái niệm đặc biệt quan trọng và có liên quan đến hoạt động tiêu dùng đó là hành vi của khách hàng. Hành vi khách hàng liên quan đến các thói quen mua hàng của một người, bao gồm xu hướng xã hội, tần suất mua hàng, các nhân tố tác động đến quyết định mua hàng của họ. Đa số, các doanh nghiệp sẽ nghiên cứu hành vi của khách hàng để nắm bắt mục tiêu của người dùng và cung cấp các sản phẩm/ dịch vụ ngày càng hấp dẫn hơn, đáp ứng nhu cầu khách hàng (Fontanella, 2020). Việc khách hàng đưa ra quyết định chấp nhận và sử dụng một sản phẩm/ dịch vụ hoặc ý tưởng được gọi là sự chấp nhận (Delafrooz et al.
Hành vi của khách hàng trong việc chấp nhận và sử dụng dịch vụ NHTT có thể tương đồng với các hành vi của người tiêu dùng trực tuyến nói chung (Lichtenstein & Williamson, 2015). Trải nghiệm khách hàng Theo Klaus et al. (2013), trải nghiệm khách được xem là chìa khóa mới và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thành công của công ty trong bối cảnh của nền kinh tế hiện nay. Khái niệm trải nghiệm khách hàng trong dịch vụ tài chính được xác định thông qua 8 ba yếu tố, bao gồm: trải nghiệm thương hiệu, trải nghiệm giao dịch và trải nghiệm mối quan hệ (O’Loughlin et al.
Ở một cách tiếp cận khác, Lywood et al. (2009) cho rằng sự tương tác của khách hàng với công ty hoặc sử dụng sản phẩm/ dịch vụ chính là trải nghiệm của khách hàng. Trải nghiệm của khách hàng bao gồm các trải nghiệm về cảm xúc chủ quan mang tính cá nhân duy nhất của khách hàng và có thể thay đổi đối với khách hàng, sản phẩm/ dịch vụ (Hoch, 2002). Theo LaSalle & Britton (2003) trải nghiệm khách hàng bao gồm một tập hợp các tương tác liên quan đến lý trí, cảm xúc, giác quan, thể chất và tinh thần,.
của khách hàng với sản phẩm và công ty, giá trị được tạo ra thông qua tập hợp các tương tác đó. Tóm lại, trải nghiệm khách hàng là ấn tượng của khách hàng về thương hiệu của nhà cung cấp sản phẩm/ dịch vụ trong tất cả các khía cạnh của quá trình mua hàng của khách hàng. Trải nghiệm khách hàng tạo ra cái nhìn của khách hàng về thương hiệu của nhà cung cấp và ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà cung cấp, bao gồm cả doanh thu. Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) được phát triển vào năm 1967 để phân tích mối quan hệ giữa thái độ, ý thức chủ quan, ý định và hành vi của con người (Ajzen & Fishbein, 1969).
Lý thuyết này cho rằng, ý định hành vi của con người được hình thành dựa trên thái độ và niềm tin của họ về kết quả của việc áp dụng một ứng dụng/ công nghệ mới nào đó. Mô hình TRA Nguồn: Fishbein et al. Hành vi của một người được xác định bởi ý định thực hiện hành vi của họ và ý định này lại là một chức năng của thái độ của họ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan (Fishbein & Ajzen, 1975). Yếu tố dự đoán tốt nhất hành vi của một người là ý định hay công cụ (niềm tin là hành vi đó sẽ dẫn đến kết quả kỳ vọng).
Trong đó, công cụ được xác định bởi 3 yếu tố: Thái độ của con người đối với hành vi cụ thể, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi của con người. Khi thái độ và chuẩn mực chủ quan càng tích cực và khả năng kiểm soát nhận thức càng lớn thì ý định thực hiện hành vi của con người càng mạnh mẽ. Mô hình thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) Lý thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) được xây dựng từ TRA bằng cách thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control- PBC). Tương tự như lý thuyết TRA, nhân tố trung tâm của TPB là ý định của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi nhất định.
Thái độ và chuẩn mực chủ quan có tác động gián tiếp đến khả năng kiểm soát hành vi và nhận thức của cá nhân. Mô hình TPB Nguồn: Ajzen (1991). Lý thuyết này phân biệt giữa 3 loại niềm tin ảnh hưởng đến ý định thực hiện một hành vi cụ thể của một cá nhân: (1) Niềm tin về hành vi, chuyển thành thái độ đối với hành vi; (2) Niềm tin chuẩn mực, liên quan đến thái độ nhận thức của đồng nghiệp và những đối tượng có tầm quan trọng đến cá nhân để thực hiện hành vi; và (3) Niềm tin kiểm soát hoặc khả năng nhận thức để thực hiện hành vi. Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), của Davis (1989) là một trong những mô hình có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc chấp nhận công nghệ của con người, với 2 yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ mới của một cá nhân: Nhận thức tính dễ sử dụng (PEOU) và nhận thức tính hữu ích (PU).
Theo TAM, nếu người dùng nhận thấy một công nghệ là hữu ích, họ sẽ tin vào mối quan hệ tích cực giữa hiệu suất sử dụng. Vì sự nỗ lực của con người là nguồn tài nguyên hữu hạn nên người dùng có thể chấp nhận một công nghệ khi họ cảm thấy nó dễ sử dụng hơn công nghệ khác. Trong đó, nhận thức tính hữu ích (PU) được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ. Nhận thức tính dễ sử dụng (PEOU) được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không làm họ tốn nhiều công sức.
Cho đến nay, lý thuyết TAM hay dạng mở rộng của nó (TAM2) đã được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến sử dụng công nghệ, phần mềm, mua hàng trực tuyến và các ứng dụng di động. Đặc biệt, lý thuyết TAM và TAM2 đã được nhiều nghiên cứu ứng dụng để đề xuất mô hình nghiên cứu trong việc dự đoán các yếu tố tác động đến ý định áp dụng NHTT của khách hàng, điển hình là nghiên cứu của Alkailani (2016), Zhang et al. Mô hình TAM Nguồn: Davis (1989). Mô hình chất lượng dịch vụ (Service Quality Models – SERVQUAL) Mô hình chất lượng dịch vụ (SERVQUAL) được đề cập bởi Parasuraman et al.
Mô hình SERVQUAL Nguồn: Parasuraman et al. Mô hình SERVQUAL dùng để xác định và giải quyết các khía cạnh của chất lượng dịch vụ dựa trên 5 lỗ hổng làm cho nó thấp hơn kỳ vọng, cụ thể: Lỗ hổng 1: Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của ban quản lý về chất lượng dịch vụ. Lỗ hổng 2: Khoảng cách giữa nhận thức của sự quản lý và cung cấp dịch vụ. Lỗ hổng 3: Khoảng cách giữa cung cấp dịch vụ và truyền thông bên ngoài.
Lỗ hổng 4: Khoảng cách giữa cung cấp dịch vụ và truyền thông nội bộ. Lỗ hổng 5: Khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng và dịch vụ cảm nhận được. Ban đầu, để đo lường chất lượng dịch vụ, Parasuraman et al. (1985) đã chỉ ra các tiêu chí được người tiêu dùng sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ phù hợp với 10 khía cạnh sau đây: Sự hữu hình, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, giao tiếp, uy tín, an ninh, năng lực, lịch sự, hiểu/ biết khách hàng và khả năng tiếp cận.
Sau đó, Parasuraman et al. Mô hình SERVQUAL được xác định với công thức: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng. Từ đó có thể thấy, mô hình SERVQUAL là lý thuyết nền cho các nghiên cứu có liên quan đến việc dự đoán các yếu tố tác động đến ý định hành vi lựa chọn dịch vụ của khách hàng, các yếu tố đó có thể là nỗ lực kỳ vọng, hiệu quả kỳ vọng và trải nghiệm khách hàng. Mô hình hiệu suất dịch vụ (Service Performance Models - SERVPERF) Đã có những tranh luận về mô hình SERVQUAL của Parasuraman et al.
Hầu hết các nhà nghiên cứu trên cho rằng mô hình SERVQUAL làm lẫn lộn giữa sự hài lòng và thái độ của khách hàng. Theo Cronin & Taylor (1992), trải nghiệm của khách hàng khi sử dụng dịch vụ chính là công cụ đánh giá hữu hiệu về chất lượng dịch vụ.