Chương 1, tác giả chủ yếu trình bày về mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra, đề tài đã trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tác giả tiếp tục tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng tại phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là một vấn đề đặc biệt được quan tâm trong toàn nền kinh tế và trong các ngân hàng.
Ủy ban Basel coi rủi ro tín dụng là khả năng bên đối tác hoặc khách hàng vay của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Theo lý thuyết này, rủi ro tín dụng bao gồm không chỉ các mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng mà còn trong các hoạt động khác của ngân hàng, chẳng hạn như đầu tư và phái sinh. Tuy nhiên, như đã nêu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, do đó rủi ro tín dụng có thể được hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ của khách hàng vay. Còn theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết (Nguyễn Như Dương, 2018).
Do đó, nội dung của rủi ro tín dụng có thể được tóm tắt như sau, dựa trên nhiều định nghĩa khác nhau: Rủi ro tín dụng là khi bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Quản trị rủi ro tín dụng Tín dụng được cung cấp nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng. Nhưng việc khách hàng không trả được vốn gốc và lãi cho ngân hàng là một rủi ro khi nhận được tín dụng này. Các ngân hàng phải quản lý rủi ro tín dụng để giảm thiệt hại và tối đa hóa lợi nhuận và giá trị của cổ đông (Nguyễn Như Dương, 2018). Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), quản trị rủi ro tín dụng là thành phần chính của các ngân hàng lớn.
Việc ban hành hệ thống các chính sách giới hạn tín dụng cho các bên vay mượn và gây nguy hiểm cho các bên liên quan có thể giúp giảm rủi ro tín dụng. Khả năng giảm giá trị của danh mục cho vay sẽ được ngăn ngừa bằng cách phân loại các khoản tín dụng theo 7 loại và sử dụng phương pháp dự phòng rủi ro (Tô Thị Ánh Dương, 2021). Trong quản trị tín dụng, NH phải cung cấp thông tin minh bạch về KH, bao gồm thông tin về rủi ro của các sản phẩm tín dụng mà NH cung cấp và liệu thời hạn của các sản phẩm tín dụng có ảnh hưởng đến cách NH quản lý rủi ro thanh khoản hay không. Ngoài ra, chất lượng nguyên tắc quản trị rủi ro bị ảnh hưởng đáng kể bởi khả năng quản trị rủi ro tín dụng của NH.
Theo Zergaw (2018) cho rằng quản trị rủi ro tín dụng nhằm mục đích tối đa hóa lợi suất rủi ro hiệu chỉnh của ngân hàng bằng cách duy trì mức độ rủi ro ở mức độ chấp nhận được. Các NH phải quản lý rủi ro tín dụng toàn bộ danh mục cũng như rủi ro cho tất cả các khoản vay và giao dịch khác. NH phải xem xét tất cả các mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và các loại rủi ro khác. Thành công trong dài hạn của NH phụ thuộc vào quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả.
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro ( Tô Thị Ánh Dương, 2021). Do đó, để hiểu rõ hơn, mô tả của quản trị rủi ro tín dụng như sau: Quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng hệ thống quản lý và các chính sách quản trị rủi ro thích hợp đối với hoạt động tín dụng nhằm tuân thủ các quy định của pháp luật. Quản trị rủi ro tín dụng tốt không chỉ bảo vệ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mà còn nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ, vì ngân hàng không thu được lãi và vốn gốc khi xảy ra rủi ro tín dụng, mặc dù họ đã cam kết thanh toán lãi và vốn huy động đúng hạn. Điều này sẽ khiến ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng đến uy tín của NH với KH.
Khi cả hệ thống ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hoặc phá sản do hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức và nhiều ngành nghề lĩnh vực trong xã hội, tình hình sẽ trở nên rất tồi tệ, tình trạng rút tiền hàng loạt bắt đầu. Ngân hàng phá sản ảnh hưởng đến đời sống xã hội và hoạt động kinh doanh. Không có vốn để sản xuất kinh doanh và trả lương nhân viên khiến doanh nghiệp thua lỗ, phá sản và thất nghiệp. Do đó, quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng giúp ổn 8 định và phát triển kinh tế, nhất là ở những quốc gia như Việt Nam phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng (Murtaza và cộng sự, 2023).
Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng là toàn bộ những nội dung liên quan đến việc nhận diện, đo lường rủi ro tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt đồng thời lựa chọn và thực thi những biện pháp/công cụ thích hợp nhằm kiểm soát, xử lý và hạn chế rủi ro tín dụng, từ đó hướng tới mục tiêu đảm bảo an toàn vốn và tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng.3 Các tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân h àng, đó là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, hoặc không đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng. Có nhiều tiêu chí phản ánh rủi ro tín dụng: ✓ Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ✓ Tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu ✓ Nợ có vấn đề, cần cảnh báo sớm Rủi ro tín dụng là khả năng không trả được nợ của khách hàng nên các Ngân hàng cần phát hiện sớm các khoản vay có vấn đề, thuộc cảnh báo sớm. Khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong trả nợ vay là biểu hiện rõ nhất; bên cạnh đó các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau. Nhiều ngân hàng cho rằng nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác của cùng một chủ thể chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro tiềm ẩn.
Trường hợp dù nợ chưa đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả được nhưng tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro tín dụng (Tô Thị Ánh Dương, 2021). Những thước đo rủi ro tín dụng cho thấy rủi ro tín dụng ở độ rộng đối với nhiều mức độ khác nhau. Điều này cho thấy, rủi ro tín dụng không chỉ thể hiện ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Trong đề tài này, RRTD được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của 9 khách hàng.
Theo Lê Thanh Tâm và cộng sự (2021) sẽ được chia thành 05 nhóm: Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá và là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1. - Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; Nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn (nhóm 2) ở một số trường hợp. - Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi cho khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3; Các khoản nợ đặc biệt khác. - Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phâ n loại lại vào nhóm nợ nhóm 4; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 4; Các khoản nợ đặc biệt khác.