Phần mở đầu. Chương 2: Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về mức độ ổn định trong chi trả cổ tức. Chương 3: Tổng quan TTCK Việt Nam và thực trạng chính sách chi trả cổ tức. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về mức độ ổn định trong chi trả cổ tức Có rất nhiều công trình nghiên cứu về mức độ ổn định trong chi trả cổ tức được thực hiện trước đây. Đầu tiên, Lintner (1956) đã đưa ra mô hình hiệu chỉnh từng phần của Lintner, sử dụng tỷ lệ hiệu chỉnh để xem xét mức độ ổn định trong chi trả cổ tức. Một doanh nghiệp theo đuổi một tỷ lệ mục tiêu được cho là sẽ thay đổi cổ tức khi lợi nhuận thay đổi.
Tuy nhiên, trong khảo sát của Lintner, các giám đốc tài chính tin rằng cổ đông thích một chính sách cổ tức ổn định hơn. Do đó, các giám đốc tài chính này xem xét điều chỉnh cổ tức so với mục tiêu đã đề ra theo một tỷ lệ hiệu chỉnh là ci. Tổng quát mô hình hiệu chỉnh từng phần Lintner như sau: ∆Di,t = ai + ci (riEPSi,t – Di,t-1) + ui,t , hoặc ∆Di,t = ai + bi,1EPSi,t + bi,2 Di,t-1 + ui,t Trong đó, ∆Di,t là sự thay đổi cổ tức của doanh nghiệp i tại thời điểm t, ai là hằng số, ci là tỷ lệ hiệu chỉnh, ri là tỷ lệ chi trả mục tiêu, EPSi,t là thu nhập trên mỗi cổ phiếu, ui,t là sai số ngẫu nhiên phân phối chuẩn. Tác giả cũng đã tìm ra rằng mô hình giải thích được 85% sự thay đổi của cổ tức khi thực hiện nghiên cứu với mẫu dữ liệu thu thập trên sàn chứng khoán của Hoa Kỳ.
Tiếp theo, Fama và Babiak (1968) đã thực hiện kiểm định mô hình hiệu chỉnh từng phần của Lintner với dữ liệu của 392 doanh nghiệp tại Bắc Mỹ trong khoảng thời gian từ 1946 – 1964. Hai tác giả này đã đưa ra kết quả rằng các doanh nghiệp sẽ tăng cổ tức khi mức cổ tức này được duy trì trong tương lai. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng mô hình hiệu chỉnh từng phần của Lintner đã giải thích tốt cho sự thay đổi cổ tức của các doanh 4 nghiệp riêng lẻ và tỷ lệ hiệu chỉnh cổ tức (ci) của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu là 36. Mối tương quan giữa môi trường thông tin và mức độ ổn định cổ tức cũng là một trong các đề tài được nghiên cứu rất nhiều trước đây.
Đầu tiên, John và Williams (1985) nghiên cứu về cân bằng tín hiệu giữa cổ tức, pha loãng quyền sở hữu và thuế. Trong tình trạng cân bằng tín hiệu, nhóm tác giả đã đưa ra kết quả rằng chính sách cổ tức tối ưu sẽ ổn định cổ tức dựa trên giá cổ phiếu. Mô hình nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các doanh nghiệp có mức độ bất cân xứng thông tin cao hơn sẽ có mức độ ổn định hơn trong chi trả cổ tức. Trong trạng thái cân bằng tín hiệu của các cổ tức chịu thuế, nội bộ doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn sẽ nhận được cổ tức nhiều hơn và giá cổ phiếu cao hơn khi nhu cầu tiền mặt của cả doanh nghiệp và cổ đông hiện tại vượt quá nguồn cung tiền mặt.
Trong trạng thái cân bằng này, nhiều doanh nghiệp phân phối cổ tức đồng thời với phát hành cổ phiếu mới trong khi các doanh nghiệp khác không chi trả cổ tức. Bởi vì cổ tức được cho là truyền tải các thông tin không được thể hiện trong báo cáo kiểm toán của công ty, nên các cổ đông hiện tại sẽ nhận được các đặc lợi kinh tế ròng từ cổ tức và từ giá cổ phiếu đã bao gồm cổ tức. Tóm lại, mô hình từ nghiên cứu của hai tác giả này đã cho rằng môi trường thông tin của doanh nghiệp có liên quan đến mức độ ổn định cổ tức nhiều hơn so với thu nhập. Tiếp theo, Kumar (1988) cũng đã nghiên cứu về môi trường thông tin và mức độ chi trả cổ tức thông qua việc xem xét mâu thuẫn của các cổ đông quản lý và nội dung thông tin được truyền tải trong chi trả cổ tức.
Nghiên cứu này đã đưa đến kết quả về sự tồn tại của điểm cân bằng tín hiệu cổ tức: cổ tức được phân chia ra các vùng thể hiện thông tin về triển vọng của doanh nghiệp và sự thay đổi trong cổ tức sẽ phản ánh triển vọng của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp đưa ra các mức cổ tức lệch đi so với một số vùng thì không tồn tại các điểm cân bằng. Các điểm cân bằng này là sự kết hợp chặt chẽ các điểm trong chi trả cổ tức: mức cổ tức phản ánh thông tin bất thường, mức cổ tức ổn định và mức cổ tức dự đoán thấp về thu nhập mang lại trong tương lai. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu của Kumar gặp hạn chế về chuỗi dữ liệu thời gian và dữ liệu chéo khi xem xét mối quan hệ giữa mức độ ổn định trong chi trả cổ tức và đặc tính của doanh nghiệp.
5 Nếu như John và William (1985) và Kumar (1988) cùng nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường thông tin và mức độ ổn định cổ tức thì Chen và Wu (1999), John và cộng sự (2006) lại nghiên cứu về mối quan hệ giữa cổ tức và các yếu tố được cho là có tác động trực tiếp đến chính sách cổ tức đó là thu nhập và giá cổ phiếu. Đầu tiên, trong nghiên cứu của Chen và Wu (1999), hai tác giả đã tiến hành kiểm định các mối quan hệ giữa cổ tức, thu nhập và giá cả cổ phiếu và đưa ra ứng dụng mối quan hệ giữa các nhân tố này đối với việc phát tín hiệu và ổn định cổ tức. Áp dụng phương pháp kiểm định nhiều giả thuyết dựa theo mô phỏng của Monte Carlo để đưa ra mối quan hệ tác động qua lại của ba biến số tài chính được đề cập ở trên và mối quan hệ thực nghiệm giữa mô hình phát tín hiệu và mô hình ổn định cổ tức. Kết quả cho thấy bằng chứng tồn tại mối quan hệ giữa cổ tức, thu nhập và giá cổ phiếu.
Bằng chứng thực nghiệm cũng đã cho thấy rằng sự thay đổi của cổ tức thường bắt nguồn từ động cơ phát tín hiệu và ổn định cổ tức. Hơn nữa, bài nghiên cứu cũng đã đưa vào các kiểm định để phân biệt giữa mô hình phát tín hiệu và mô hình ổn định cổ tức và kết quả cho thấy rằng sự thay đổi của cổ tức sẽ truyền tải những thông tin không mong đợi về thu nhập trong tương lai với thời gian tối thiểu là một năm. Tiếp theo, John và cộng sự (2006) cũng đã tiến hành kiểm định mối tương quan đồng thời giữa cổ tức, thu nhập và giá cổ phiếu. Tuy nhiên, nhóm tác giả này không sử dụng phương pháp kiểm định giả thuyết dựa theo mô phỏng của Monte Carlo như trong nghiên cứu của Chen và Wu (1999) mà sử dụng mô hình Var để xem xét mối quan hệ của ba biến số này.
Công trình nghiên cứu của John và cộng sự (2006) đã thực hiện nghiên cứu của 137 doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ tại Anh trong khoảng thời gian từ 1970 – 2003. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã sử dụng kiểm định nhân quả để đưa ra một số bằng chứng ủng hộ cho cả giả thuyết ổn định cổ tức và tín hiệu cổ tức và được cho là sẽ mang tính hỗ trợ cao cho việc kiểm định những giả thuyết sau này. Cuối cùng, các kết quả này đã thu hút được sự chú ý của các tổ chức thị trường khi mà họ đặt ra giả định rằng không có mối quan hệ giữa giá, cổ tức và thu nhập trong khi ba biến số này lại thể hiện mối tương quan chặt chẽ và mức độ khác nhau của mối quan hệ nhân quả. Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và ổn định cổ tức cũng là vấn đề được nghiên cứu rất nhiều trước đây.
Công trình nghiên cứu của Rahman (2002) cho thấy cấu trúc sở hữu xét 6 đối với cả góc độ doanh nghiệp và góc độ quốc gia là các yếu tố quan trọng tác động đến chính sách chi trả cổ tức ổn định của doanh nghiệp và hai yếu tố này cũng được cho là có mối tương quan ngược chiều với mức độ ổn định cổ tức. Thêm vào đó, cấu trúc sở hữu xét đối với góc độ quốc gia được cho là có ảnh hưởng nhiều hơn so với cấu trúc sở hữu xét đối với góc độ doanh nghiệp. Công trình ngày được thực hiện với dữ liệu thu thập trên 28 quốc gia. Kết quả của nghiên cứu còn cho thấy rằng mức độ ổn định cổ tức của doanh nghiệp khác nhau đối với các quốc gia.
Ngoài ra, kết quả này cũng đã được xem xét và mở rộng từ các kết quả nghiên cứu trước đây cho rằng chính sách cổ tức của các doanh nghiệp tại Hoa Kỳ khác với chính sách cổ tức của doanh nghiệp tại các quốc gia khác. Trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất mở rộng số lượng doanh nghiệp trong mẫu quan sát nhằm giải thích sự đa dạng trong chính sách ổn định cổ tức. Sau này, Michaelly và Roberts (2012) cũng đã đưa ra kết quả cho rằng cấu trúc sở hữu đóng vai trò chủ chốt trong việc điều chỉnh chính sách chi trả cổ tức. Tuy nhiên, cấu trúc sở hữu trong nghiên cứu của hai tác giả này chỉ xem xét ở góc độ doanh nghiệp – giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước.
Michaelly và Roberts (2012) cho rằng các doanh nghiệp tư nhân ít ổn định cổ tức hơn so với các doanh nghiệp nhà nước, sự giám sát của các thị trường vốn đóng vai trò trung tâm đối với xu hướng ổn định cổ tức doanh nghiệp qua thời gian. Ngoài ra, các doanh nghiệp tư nhân có sở hữu một cách phân tán sẽ chi trả cổ tức thấp hơn các doanh nghiệp nhà nước có cùng đặc điểm. Nghiên cứu cũng đã tìm ra một điểm mới so với các nghiên cứu trước đây đó là các doanh nghiệp chuyển từ hình thức tư nhân sang nhà nước cũng gia tăng cổ tức trong khoảng thời gian chuyển đổi. Các doanh nghiệp nhà nước chi trả cổ tức tương đối cao sẽ có xu hướng nhạy cảm hơn đối với những thay đổi trong cơ hội đầu tư so với các doanh nghiệp tư nhân.
Thuế cũng là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ổn định của cổ tức. Bằng chứng cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu trước đây đi vào nghiên cứu tác động của yếu tố vĩ mô này đối với việc chi trả cổ tức.