chương 1 đã cung cấp những nội dung cơ bản, khái quát về cấu trúc của đề tài với 5 chương chính. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tổng quan về TGKH tại các NHTM TGKH là một trong những thành phần thuộc nhóm nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán của các NHTM. Tiền gửi có ba vai trò cơ bản.
Thứ nhất, tiền gửi đóng vai trò như một công cụ tạo tiền. Thứ hai, tăng trưởng tiền gửi thúc đẩy khối lượng tiết kiệm trong nền kinh tế. Thứ ba, tiền gửi được sử dụng như một trong hai biến số phục vụ cho việc tính toán mức cung tiền trong nền kinh tế. Ba vai trò này của tiền gửi giữ vị trí vô cùng quan trọng, đến mức nếu khả năng tạo tiền của NHTM sẽ không thể duy trì được nếu không có tiền gửi.
Ngoài ra, tiết kiệm là điều kiện cần để đảm bảo mức đầu tư cần thiết cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế. Theo Pradhan & Paneru (2016), Tiền gửi ngân hàng là thành phần quan trọng nhất của cung tiền và những biến động trong tăng trưởng tiền có mối liên hệ chặt chẽ với những thay đổi về giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. Kết quả là, những thay đổi trong dòng tiền gửi sẽ tác động lớn đến đồng thời hai yếu tố là khả năng tạo tiền và đầu tư của các ngân hàng. Khả năng tạo tín dụng của các ngân hàng thông qua việc cho vay các khách hàng tiềm năng, những người được đánh giá là đáng tin cậy sẽ được nâng cao nhờ vào việc tăng trưởng khối lượng tiền gửi tại ngân hàng.
Việc gia tăng cho vay về lâu dài được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do khi tăng cho vay sẽ thúc đẩy mức đầu tư vào tài sản tài chính, tài sản thực, hoạt động sản xuất và kinh doanh nói chung. Tuy nhiên, khả năng cho vay của các ngân hàng sẽ phụ thuộc vào khối lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Khi khối lượng tiền này bị sụt giảm sẽ làm giảm khả năng cho vay của các ngân hàng, dẫn đến làm giảm đầu tư trong nền kinh tế, gây ra sự kìm hãm đáng kể trong tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tiền gửi ngân hàng là thành phần quan trọng nhất của cung tiền và những biến đổi trong tăng trưởng tiền có mối liên hệ chặt chẽ với những thay đổi về giá cả kinh tế đối với hàng hóa và dịch vụ.
Khi đưa ra chiến lược danh mục đầu tư, các nhà đầu tư thường lựa chọn tính thay đổi của tiền gửi như một yếu tố quan trọng trong việc 11 đưa ra quyết định, tiền gửi ngân hàng càng biến động thì tổ hợp tài sản của nó càng có tính thanh khoản cao. Việc nắm giữ tiền và dự trữ dư thừa của các ngân hàng, cũng như sự phân bổ tổng dự trữ của các ngân hàng thành viên trong hệ thống ngân hàng sẽ chịu sự tác động của sự thay đổi tiền gửi. Từ đó, dẫn đến đường đi và tốc độ thực hiện chính sách tiền tệ. Đây là lý do tại sao tiền gửi rất quan trọng đối với các ngân hàng và cũng như là đối với nền kinh tế của một quốc gia.
Các ngân hàng cần dòng tiền từ người dân để có thể cho vay hoặc tài trợ nhằm thúc đẩy năng suất và tăng trưởng kinh tế đồng thời thu được lợi nhuận cho chính mình thông qua lãi suất hoặc ký quỹ được áp dụng (Ostadi & Sarlak, 2014). Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến lượng TGKH tại NHTM Mọi người giữ tiền vì ba lý do theo lý thuyết về cầu tiền của Keynes, đó là: giao dịch, phòng ngừa rủi ro và đầu tư. Hiểu được ba động cơ này, các ngân hàng thương mại cung cấp nhiều lựa chọn gửi tiền cho người tiêu dùng. Các sản phẩm tiền gửi được thiết kế cho đối tượng là những người cần tiền để giao dịch.
Đặc điểm của dòng sản phẩm này được nhìn nhận từ quan điểm của người tiêu dùng cần thu nhập để đáp ứng chi tiêu gia đình và quan điểm cần tiền và nắm giữ tiền phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, mục đích của khoản tiền gửi là để thuận tiện cho việc thanh toán hàng ngày. Nếu như tiền gửi được thiết kế để thực hiện các giao dịch hàng ngày thì hình thức tiền gửi tiết kiệm lại phục vụ nhu cầu gửi tiết kiệm, nâng cao thu nhập của người dân. Người gửi tiền trong tài khoản tiết kiệm, đại đa số cũng xuất phát từ động cơ đề phòng những tình huống không lường trước được.
Dựa trên nền tảng lý thuyết của Keynes, có ba lý thuyết chính liên quan đến hành vi tiết kiệm có thể kể đến như: Giả thuyết thu nhập thường xuyên (The permanent income hypothesis) của Friedman (1957); Mô hình vòng đời (Life cycle model) của Modigliani & Brumberg (1954); Lý thuyết tiết kiệm (The theory of saving) của Deaton (1991) và Lý thuyết cổ phiếu đệm (The buffer-stock theory) của Carroll & cộng sự (1992). Vào năm 1936, Keynes đưa ra Giả thuyết thu nhập tuyệt đối. Giả thuyết này cho rằng tiêu dùng chỉ phụ thuộc vào thu nhập cá nhân, vì thế tiết kiệm được xem là 12 một phần của thu nhập so với chi tiêu. Từ quan điểm của Keynes, Friedman (1957) đã mở rộng ra khi cho rằng phương pháp tốt nhất để nghiên cứu về hành vi tiết kiệm và tiêu dùng là xem xét về tính đúng của kế hoạch chi tiêu của cải mà các cá nhân đã lập ra cho chính họ.
Giả thuyết thu nhập thường xuyên đã đưa ra dự đoán rằng nếu mức nếu cá nhân dự đoán được khoản thu nhập của họ sẽ cao lên trong tương lai thì khoản tiết kiệm tại thời điểm hiện tại của họ sẽ giảm xuống. Modigliani & Brumberg (1954) sau khi thực hiện một nghiên cứu đồng thời và độc lập đã cho ra đời giả thuyết về vòng đời. Giả thuyết này nhấn mạnh rằng động lực chính của tiết kiệm của một cá nhân là tích lũy cho chi tiêu khi nghỉ hưu. Theo các tác giả này, một cá nhân sẽ chi tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được vào giai đoạn đầu của cuộc sống, thông qua việc đi vay mặc dù họ biết rằng nguồn thu nhập của họ trong tương lai sẽ tăng.
Việc này dẫn đến tỷ lệ tiết kiệm của họ sau đó là âm. Và tỷ lệ tiết kiệm âm này sẽ chuyển thành số dương khi cá nhân đạt được mức thu nhập tối đa, tỷ lệ này cũng sẽ tăng dần lên trong những năm trước nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, họ sẽ trả hết các khoản tiết kiệm đó. Vì vậy, tỷ lệ tiết kiệm, trong vòng đời của một người, có hình dạng một cái chuông.
Từ những lập luận như thế, giả thuyết về vòng đời cho rằng khoản tiết kiệm cũng như tiêu dùng sẽ không được xác định bởi thu nhập hiện tại. Hay theo Attanasio & cộng sự (2000) đã ủng hộ lập luận rằng tốc độ tăng trưởng cao làm tăng tổng thu nhập của người lao động so với người nghỉ hưu và người phụ thuộc, từ đó làm tăng tỷ lệ tiết kiệm tổng hợp. Carroll & cộng sự đã cho ra đời một một lý thuyết mang tên Lý thuyết cổ phiếu đệm. Lý thuyết này cho rằng các các nhân có động cơ nắm giữ tài tài là do họ muốn bảo vệ nhu cầu tiêu dùng của họ trước biến động khó dự đoán trước của thu nhập.
Lý thuyết cho rằng người tiêu dùng trở nên thiếu kiên nhẫn và thận trọng khi họ phải đối mặt với các nguồn thu nhập quan trọng nhưng không chắc chắn. Họ thiếu kiên nhẫn vì phải vay mượn nhiều hơn so với thu nhập trong tương lai để đáp ứng mức tiêu dùng hiện tại, và họ cũng thận trọng vì cần phải đề phòng. Để đảm bảo mục đích tiêu dùng, cũng như phòng tránh các rủi ro về biến động thu nhập trong tương lai, họ buộc phải giảm thiểu mức tiêu dùng hiện tại để tiết kiệm, khoản tiết kiệm này như một 13 khoản dự phòng cho những sự cố bất ngờ. Xuất phát từ tư duy này của người tiêu dùng đã làm cho tỷ lệ tiết kiệm có tính chu kỳ hay có thể hiểu là các cá nhân khi có thu nhập cao hơn thì họ sẽ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn để đáp ứng tiêu dùng trong những thời điểm xấu.
Theo lý thuyết bất cân xứng thông tin, các ngân hàng có sở hữu kiểm soát bởi NN thường đáng tin cậy hơn. Hầu hết những người gửi tiền tại ngân hàng thương mại hiện nay đều thích gửi tiền vào các ngân hàng thương mại có sở hữu kiểm soát bởi NN vì họ tin rằng tiền của họ sẽ được đảm bảo an toàn hơn so với các ngân hàng thương mại không có sở hữu kiểm soát bởi NN, giúp các ngân hàng có sở hữu kiểm soát bởi NN dễ dàng huy động TGKH hơn. Hơn nữa, TGKH tại các ngân hàng thương mại có sở hữu kiểm soát bởi NN được coi là an toàn hơn và ít rủi ro hơn so với tiền gửi tại các ngân hàng thương mại khác. Theo nguyên tắc đánh đổi lợi nhuận và rủi ro trong quản lý tài chính, các ngân hàng thương mại có sở hữu kiểm soát bởi NN thường xuyên huy động TGKH với lãi suất thấp hơn, điều này có thể hạn chế số lượng TGKH tại các ngân hàng thương mại có sở hữu kiểm soát bởi NN.
Vì thế, sở hữu kiểm soát của NN cũng là một yếu tố có khả năng tác động đến lượng TGKH tại các NHTM 2. Nghiên cứu thực nghiệm 2. Các nghiên cứu thực nghiệm Abiodun & cộng sự (2021) xem xét cách các yếu tố kinh tế vĩ mô và đặc điểm ngành ngân hàng ảnh hưởng đến lượng tiền gửi tại các ngân hàng ở Nigeria từ năm 2000 đến năm 2018. Theo lý thuyết của định lý trung gian ngân hàng, nghiên cứu chọn lượng tiền gửi nội tệ, bằng tổng tiền gửi nội tệ của các ngân hàng làm biến phụ thuộc; biến độc lập sẽ là các yếu tố quyết định tiền gửi, gồm tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất, lạm phát (biến kinh tế vĩ mô) và QMNH, tín dụng khu vực tư nhân (biến đặc điểm khu vực ngân hàng).
Dữ liệu thứ cấp được thu thập lấy từ tài liệu thống kê của Ngân hàng Trung ương Nigeria với các ấn bản khác nhau và được ước tính bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag, ARDL). Nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ lệ lạm phát tác động ngược chiều đến tiền gửi nội tệ một cách đáng kể và tổng sản phẩm quốc nội tác động cùng chiều đáng 14 kể đến tiền gửi nội tệ.