Chương 1 giới thiệu tổng quan về mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn. Mục đích của chương 2 là giới thiệu cơ sở lý thuyết về lòng trung thành thương hiệu để đưa ra mô hình lý thuyết của nghiên cứu. Chương này tập trung vào 3 nội dung chính đó là: (1) Lý thuyết về lòng trung thành thương hiệu và các yếu tố liên quan, (2) Tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đây về lòng trung thành thương hiệu, (3)Mô hình lý thuyết của nghiên cứu và giả thuyết.1 Thương hiệu Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kì: “Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng thể các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay một dịch vụ của một (hay một nhóm) sản phẩm hay dịch vụ của một (một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh”. Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (W/PO): “Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ với dấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ. Thương hiệu là một tài sản vô hình quan trọng và đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm một phần đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp”. Theo Philip Kotler (2001) thì “Thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu (cả hữu hình và vô hình) mà khách hàng hoặc công chúng cảm nhận được qua việc tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ hoặc giải mã các thông điệp từ người cung cấp sản phẩm/dịch vụ hoặc được tạo ra bằng các cách thức khác để phân biệt hàng hóa, dịch vụ hoặc nhóm hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp này với nhà cung cấp khác để phân biệt giữa các nhà cung cấp”. 7 Hiện nay, với sự phát triển của hoạt động Marketing, các quan điểm tổng hợp cho rằng thương hiệu không chỉ là cái tên, logo hay biểu tượng mà nó còn là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà khách hàng đòi hỏi (Ambler và Styles, 1996).
Cũng theo quan điểm đó thì sản phẩm chỉ được xem là một thành phần của thương hiệu và thương hiệu bao giờ cũng là sự kết hợp giữa thuộc tính hữu hình và vô hình.2 Lòng trung thành 2.1 Khái niệm lòng trung thành Theo Mowday và cộng sự (1979) thì “Trung thành là ý định hoặc mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức”. Dick và cộng sự (1994) cho rằng: “Lòng trung thành là một nhân tố phức tạp, nó bao gồm các thành phần cả về tâm lý lẫn hành vi”. Lòng trung thành cũng được định nghĩa như sự cam kết mua lại hoặc ghé thăm lại các sản phẩm, dịch vụ ưa thích trong tương lai (Oliver, 1999). Theo Kathleen Khirallah (2005) thì “Lòng trung thành của khách hàng thể hiện khi khách hàng đã lựa chọn sản phẩm, dịch vụ nào thì họ sẽ tiếp tục sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó và sẽ khuyến cáo người khác sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó”.
Bloemer và cộng sự (1998) cho rằng: “Lòng trung thành của khách hàng có thể xem như là sự thiên vị của các hành vi thể hiện qua thời gian bằng các đơn vị quyết định với sự tôn trọng và dẫn đến sự cam kết đối với thương hiệu”. Còn theo Engel và Blackwell (1982) thì “Lòng trung thành có thể được hiểu là thái độ và hành vi đáp ứng tốt hướng tới một hoặc một vài nhãn hiệu đối với sản phẩm tỏng một thời kỳ bởi một khách hàng”.2 Khái niệm lòng trung thành thương hiệu Theo Oliver (1999) thì “Lòng trung thành thương hiệu được xem là sự cam kết sâu sắc việc mua lặp lại một loại sản phẩm, dịch vụ ưa thích trong tương lai, từ đó dẫn 8 đến việc mua lặp lại một thương hiệu hay một nhóm thương hiệu mà không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tình huống và các hoạt động marketing. Định nghĩa này đã phân biệt được giữa sự gắn bó bề ngoài với thương hiệu với sự gắn bó có tình bền vững hơn, sâu sắc hơn về tâm lý. Bên cạnh đó, định nghĩa cũng thừa nhận rằng khách hàng có thể không chỉ trung thành với một thương hiệu mà có thể với một nhóm thương hiệu trong một loại sản phẩm.
Điều này rất phù hợp với nhóm mặt hàng tiêu dùng nhanh khi sự quan tâm của khách hàng tương đối thấp và khách hàng ra quyết định mua dựa trên cơ sở danh mục các thương hiệu chứ không chỉ trung thành với một thương hiệu đơn lẻ. Jacoby & Kyner (1973) cho rằng lòng trung thành thương hiệu là việc khách hàng đánh giá cao một hay vài thương hiệu so với các thương hiệu khác và được hình thành thông qua những quyết định lặp đi lặp lại. Hai tác giả này cho rằng: có hai cách tiệp cận để định nghĩa lòng trung thành thương hiệu của khách hàng đó là: cách tiếp cận dựa trên hành vi và cách tiếp cận dựa trên thái độ. Theo cách tiếp cận hành vi, lòng trung thành thương hiệu được giải thích như là hành động mua lặp lại và hành vi đó là một chức năng của các quá trình tâm lý - kết quả từ các yếu tố tâm lý hoặc tình huống.
Theo cách tiếp cận dựa trên thái độ, lòng trung thành của khách hàng được định nghĩa như là một thái độ. Nó giải thích dựa trên thái độ/sở thích của khách hàng, và nó được đo lường bằng ý định mua hàng, thích thú và sẵn lòng giới thiệu. Còn theo Pritchard & Howard (1997) thì “Lòng trung thành thương hiệu là một mạng lưới định hướng hành vi mua của khách hàng trong đó khách hàng có xu hướng ít thay đổi, nỗ lực xử lý thông tin về thương hiệu ở mức độ cao”. Jacoby & Chesnut (1978) đã nhìn nhận Lòng trung thành thương hiệu phải bao gồm năm yếu tố sau: Hành vi có chủ đích, Lại một cách thường xuyên, Đơn vị thực hiện quyết định, Sự lựa chọn thương hiệu và Chức năng của quá trình tâm lý.
Hành vi có chủ đích: Đầu tiên, trung thành thương hiệu phải là một phản ứng có chủ đích, đó là hành động mang tính hệ thống về việc mua sản phẩm của một hay 9 nhóm thương hiệu, điều này được tạo ra từ kinh nghiệm tiêu dùng trong quá khứ của khách hàng. Điều này còn có nghĩa khách hàng sẽ không lựa chọn các sản phẩm thay thế của thương hiệu khác (Massey, Montgomery & Morrison, 1970). Lặp lại thường xuyên: Lòng trung thành phải được thể hiện bằng những hành vi lặp đi lặp lại thường xuyên. Khách hàng mua và sử dụng một thương hiệu và lặp lại hành vi này (Chaudhuri, 1999).
Đơn vị thực hiện quyết định: Trung thành thương hiệu được cho là hình mẫu của hành vi mua của một đơn vị ra quyết định như cá nhân, hộ gia đình hay công ty. Điều này có nghĩa là đơn vị ra quyết định có thể không phải là đơn vị thực hiện hành vi mua. Chẳng hạn như, trong gia đình định hướng, bố mẹ thường là người ra quyết định mua, những việc tiêu dùng sản phẩm cũng ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định này (Agnew, 1987). Sự lựa chọn các thương hiệu: Số lượng thương hiệu về một chủng loại sản phẩm nào đó cũng ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng.
Đặc biệt, đối với những sản phẩm có mức độ gắn kết thấp, khách hàng thường ít đánh giá giữa các thương hiệu một cách phức tạp mà chỉ phân loại thành “có thể chấp nhận” và “không thể chấp nhận”. Chức năng của tiến trình tâm lý: Trung thành thương hiệu là kết quả của tiến trình mang tính tâm lý phức tạp diễn ra bên trong người tiêu dùng. Mỗi người tiêu dùng khác nhau có đặc điểm xử lý thông tin, ưu tiên khác nhau trong tiến trình ra quyết định,. Tất cả những điều đó tác động lẫn nhau và tạo ra kết quả là người tiêu dùng có bị lôi cuốn, cam kết và trung thành thương hiệu hay không.3 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2.1 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 2.1 Nghiên cứu của Tariq M.
Khizindar và cộng sự (2015) Nghiên cứu này được thực hiện tại Ả Rập Saudi nhằm đánh giá hiệu quả của các biến: Giá cả, Chất lượng dịch vụ, Hình ảnh thương hiệu và Xu hướng về Lòng trung thành của khách hàng đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động.1 Mô hình nghiên cứu của Tariq M. Khizindar và cộng sự (2015) Nguồn: Khizindar, T. (2015) Nghiên cứu đã thu thập 775 phiếu trả lời khảo sát từ các khách hàng sử dụng mạng viễn thông từ các nhà cung cấp dịch vụ bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện tại khắp các thành phố lớn của Ả Rập Saudi. Kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu đã cho thấy rằng tất cả các khía cạnh được phân tích là: Giá cả, Chất lượng dịch vụ, Hình ảnh thương hiệu và Xu hướng đều có ảnh hưởng trực tiếp đến Lòng trung thành của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ.2 Nghiên cứu của Aydin và cộng sự (2004) Nghiên cứu được thực hiện trong thị trường viễn thông di động của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm xác định một số tiền đề của lòng trung thành như Hình ảnh công ty, Chất lượng dịch vụ nhận thức, Sự tin tưởng, Chi phí chuyển đổi khách hàng và kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố này với lòng trung thành của khách hàng cũng như mối quan hệ giữa chúng trong thị trường dịch vụ viễn thông di động Thổ Nhĩ Kỳ.2 Mô hình nghiên cứu của Aydin và cộng sự (2004) Nguồn: Aydin, S.
(2005) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: sự tin tưởng là yếu tố quyết định quan trọng nhất của lòng trung thành của khách hàng. Tiếp theo là chất lượng dịch vụ nhận thức và chi phí chuyển đổi, tuy có cùng mức độ ảnh hưởng nhưng tác động của chi phí chuyển đổi được đánhgiá cao hơn do có sự tác động gián tiếp của nó đến lòng trung thành. Bên cạnh đó, hình ảnh công ty cũng có tác động tích cực đến lòng trung thành, tuy nhiên sự tác động này là không đáng kể. Chi phí chuyển đổi nhận thức được ảnh 12 hưởng bởi sự tin tưởng và chất lượng dịch vụ nhận thức, trong khi chất lượng dịch vụ nhận thức ảnh hưởng đến cả chi phí chuyển đổi nhận thức và sự tin tưởng.