chương 1 tác giả đã trình bày đưa ra lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và kết luận của luận văn. Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm có được sự nhận định chung nhất về cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.Trong chương 2, tác giả sẽ đề cập nội dung đến cơ sở lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn, các yếu tố ảnh hưởng và mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và các yếu tố ảnh hưởng ra sao. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn doanh nghiệp Cấu trúc vốn là một vấn đề được nhiều sự quan tâm từ các nhà quản trị cũng như các nhà nghiên cứu. Dù được nhiều sự quan tâm nhưng chưa có một khái niệm cụ thể nào về cấu trúc vốn.at (2008) cho rằng, cấu trúc vốn được hiểu là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu được doanh nghiệp sử dụng để tạo nên tổng tài sản trong hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, Klayman et.al (1994) lập luận, cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả bao gồm các khoản vay dài hạn, nợ hình thành từ phát hành trái phiếu, thuê tài chính, các khoản tín dụng thương mại và các khoản phải trả ngắn hạn khác. Ở Việt Nam cũng có những nghiên cứu lập luận về cấu trúc vốn, theo Đặng Phương Mai (2016), cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là sự kết hợp của các nguồn vốn bao gồm: nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn, nguồn nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. - Cấu trúc vốn tối ưu: Cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp là một hỗn hợp nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu, cổ phần ưu đãi và cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp hoặc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Với một cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa.
Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa gọi là cấu trúc vốn tối ưu. Một cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp được xác định bởi các yếu tố như rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, mức độ phá sản có thể có, chi phí đại lý và vai trò cuả chính sách tác động đến cấu trúc vốn trong việc cung cấp các tín hiệu về thành quả của doanh nghiệp cho các thị trường vốn. Ngoài ra, các quyết định cấu trúc vốn trong thực tiễn còn bị chi phối bởi các tiêu chuẩn ngành, tác động của tín hiệu, ưu tiên quản trị, mức độ ưa thích của các nhà quản lý và thậm chí là các vấn đề đạo đức nữa.Vậy cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn đạt được khi tại đó giá trị doanh nghiệp lớn nhất, chi phí vốn ở mức thấp nhất.2 Một số lý thuyết vể cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller Modigliani và Miller (M&M) là tên hai nhà kinh tế nổi tiếng người Mỹ. Hai ông đã nhận giải Nobel kinh tế 1958, nội dung tìm hiểu xem liệu rằng việc lựa chọn cấu trúc vốn có tác động đến giá trị doanh nghiệp hay không và liệu rằng chi phí vốn tăng hay giảm khi doanh nghiệp tăng hay giảm việc đi vay nợ.
Nội dung nghiên cứu của 8 Modigliani và Miller chủ yếu xem xét mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và giá trị của doanh nghiệp. Modigliani và Miller cho rằng: “giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc tài chính tức là việc sử dụng nợ hay vốn cổ phần không làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng sinh lời của các tài sản của doanh nghiệp hơn là tài sản được tài trợ bởi nợ hay vốn cổ phần” Thị trường vốn mà M&M giả định là thị trường hoàn hảo tức là không có chi phí giao dịch, không có thuế thu nhập doanh nghiệp , không có chi phí phá sản, nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất, các doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh, các tài sản được định giá bằng nhau. Như vậy, theo lập luận của M&M, trong thị trường vốn hoàn hảo và không có thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị của doanh nghiệp không vay nợ bằng với giá trị doanh nghiệp có vay nợ.
Hay nói cách khác, giá trị thị trường của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn của nó. Năm 1963, M&M tiếp tục phát triển nghiên cứu của mình trong thị trường vốn bất hoàn hảo, thị trường mà chi phí lãi vay giúp doanh nghiệp được khấu trừ thuế thì giá trị doanh nghiệp sẽ tăng với đòn bẩy tài chính cao hơn. Mô hình này dựa trên tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp thì các doanh nghiệp hoạt động có lời nên sử dụng nợ nhiều hơn. Tuy nhiên, việc gia tăng nợ sẽ dẫn đến khả năng phá sản cao hơn.
Do đó, cấu trúc vốn tối ưu nghĩa là mức đòn bẩy có thể cân bằng được chi phí phá sản và lời ích của việc tài trợ nợ. Nói tóm lại, cả 2 mệnh đề Modigliani và Miller đều giả định rằng, thị trường vốn là cạnh tranh hoàn hảo, không có sự tồn tại của thuế, không có chi phí giao dịch cũng nhưng không có chi phí phá sản. Đây là một điều rất phi thực tế. Tuy nhiên 2 mệnh đề của Modigliani và Miller cũng tạo nên những tiền đề phát triển các lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp sau này.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade - off theory) (Myers, 1984) Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn của Myers (1984) giả định, các doanh nghiệp lựa chọn một tỷ lệ hợp lý để có được cấu trúc vốn tối ưu.
Mặt khác, lý thuyết đánh đổi này của cấu trúc vốn còn thừa nhận thêm một khía cạnh, các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, cơ cấu về nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được xem xét trên sự đánh đổi giữa lời ích về lá chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính. Thực tế, thuyết đánh đổi cấu trúc vốn đã cho rằng, cấu trúc vốn tối ưu đạt được khi giá trị hiện tại biên của tấm chắn thuế do vay nợ thêm vừa đủ bù trừ cho gia tăng trong giá trị hiện tại biên của chi phí kiệt quệ tài chính. Song song đó, lý thuyết cũng đã nêu bật quan điểm các công ty có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao.
Ngược lại, các công ty không sinh lời có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên dựa chủ yếu vào tài trợ vốn cổ phần. 9 Hơn nữa, các doanh nghiệp có gánh nặng nợ vay quá nhiều không thể trả bằng tiền mặt thì nên phát hành cổ phần hay bán bớt tài sản doanh nghiệp hoặc huy động thêm nguồn nhằm tái cân đối cấu trúc vốn. Theo đó, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết khá quan trọng trong lĩnh vực kinh tế tài chính nói chung và lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng. Hơn thế, lý thuyết đánh đổi cấu trúc còn là nền tảng để lý giải nguyên nhân các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, còn một phần thì bằng vốn cổ phần trong cơ cấu vốn.
Khi các doanh nghiệp tài trợ nguồn vốn bằng nợ thì ngoài việc có được những lời ích từ tấm chắn thuê, thì việc này cũng sẽ phát sinh ra nhiều chi phí. Chính vì thế, doanh nghiệp luôn lựa chọn tỷ lệ phù hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Hầu hết các nghiên cứu ủng hộ lý thuyết này cho rằng cấu trúc vốn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trường, tài sản cố định và thuế suất. Tuy nhiên, mối quan hệ ngược chiều giữa nợ và khả năng sinh lời trong một số nghiên cứu lại không ủng hộ lý thuyết này.
Lý thuyết đánh đổi cân đối các lời thế của nợ vay với các chi phí kiệt quệ tài chính. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có tài sản hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để được khấu trừ nên có tỷ lệ mục tiêu cao. Các doanh nghiệp không sinh lời có các tài sản vô hình nhiều rủi ro nên chủ yếu dựa vào tài trợ vốn cổ phần.
Lý thuyết đánh đổi đã thành công trong việc giải thích các khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành. Thí dụ, doanh nghiệp tăng trưởng công nghệ cao, có tài sản rủi ro và hầu hết là vô hình, thường sử dụng nợ tương đối ít. Các hãng hàng không có thể vay và thường vay nhiều vì tài sản của họ là hữu hình và tương đối an toàn. Tuy nhiên, lý thuyết này lại không giải thích được tại sao các doanh nghiệp sinh lời nhất trong cùng ngành thường có cấu trúc vốn bảo thủ nhất.
Theo lý thuyết đánh đổi, lợi nhuậncao sẽ có nhiều khả năng vay nợ và có nhiều lợi nhuậnsẽ giúp cho doanh nghiệp đạt một tỷ lệ của mục tiêu cao hơn.3 Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng được khởi đầu bởi Myers và Majluf năm 1984 dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng. Giả thuyết cho rằng ban quản trị cho biết hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin bất đối xứng) và việc quyết định tài chính cho biết kiến thức và sự không chắc hắn về lưu lượng tiền mặt trong tương lai. Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được định giá cao hơn là định giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán. Khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được định giá cao hơn là định giá thấp.
Do đó, hoạt động này sẽ truyền tải thông tin không thuận lời cho nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nổ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài).