Đặt vấn đề: Trong suốt quá trình hoạt động, công ty thƣờng xuyên phải giải quyết 3 vấn đề quan trọng là quyết định đầu tƣ, quyết định tài trợ và quyết định cổ tức. Trong đó, chính sách tài trợ nói chung và việc hoạch định cấu trúc vốn nói riêng là một vấn đề khá quan trọng. Việc lựa chọn một cấu trúc vốn phù hợp sẽ góp phần giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí, hạn chế nguy cơ phá sản và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn, làm gia tăng giá trị của công ty. Chính vì vậy mà nó đã và đang đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế học quan tâm, kiểm định lại, đồng thời phát triển, mở rộng cho phù hợp với thời đại.
Lý thuyết cấu trúc vốn bắt đầu với nghiên cứu của Modigliani & Miller (1958) trong thị trƣờng vốn hoàn hảo, sau đó đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của thị trƣờng vốn. Hai lý thuyết đƣợc các nhà quản trị tài chính quan tâm nhiều nhất và đƣợc kiểm định tại các thị trƣờng ở nhiều nƣớc trên thế giới là lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (TOT) và lý thuyết trật tự phân hạng (POT) Trong khi lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn chú trọng đến nguồn tài trợ từ bên ngoài là nợ do tận dụng ƣu đãi của tấm chắn thuế thì lý thuyết trật tự phân hạng lại bắt đầu với thông tin bất cân xứng để ƣu tiên tài trợ từ nội bộ công ty khi có dự án đầu tƣ. Đã có nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm kiểm định tác động của các lý thuyết này lên việc lựa chọn cấu trúc vốn của công ty tại các nƣớc (Rajan và Zingales ( 1995); Booth et al (2001); Jean J.H Huang và Frank M. Các bài nghiên cứu này tuy đứng trên các quan điểm khác nhau để phân tích nhƣng không có nghĩa là loại trừ lẫn nhau, chúng giúp cho các công ty có cái nhìn tổng quát khi quyết định 2 lựa chọn cấu trúc vốn phù hợp với quy mô, ngành nghề và các đặc điểm đặc trƣng của mình.
Trong khi doanh nghiệp tại các quốc gia khác thì khá quan tâm đến việc tìm kiếm một cấu trúc vốn nhƣ thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình thì tại Việt Nam. Do phần lớn các công ty trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam một phần xuất phát từ các công ty sở hữu nhà nƣớc hoặc các công ty gia đình nên các công ty ở Việt Nam vẫn chƣa chú trọng đến vấn đề này, vẫn còn mang nhiều tƣ tƣởng e sợ nợ và thích sử dụng vốn của doanh nghiệp nhiều hơn. Hơn nữa, ở Việt Nam, khi thị trƣờng đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do đó sự tăng trƣởng đƣợc chú trọng nhiều hơn, các doanh nghiệp chƣa quan tâm lắm đến việc xây dựng một cấu trúc vốn phù hợp với hoạt động doanh nghiệp mình. Trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới với xu hƣớng toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi tƣ duy này cho phù hợp và tìm cho mình một cấu trúc vốn phù hợp để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc ngay chính trên lãnh thổ Việt Nam và thị trƣờng thế giới.
Tại Việt Nam đã có nhiều bài nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc xây dựng một cấu trúc vốn tối ƣu cho doanh nghiệp Việt Nam nhƣ Nguyen Tran Dinh Khoi & Ramachandran, Neelakantan (2006); Nahum Biger, Nam V. Tuy nhiên chƣa tìm thấy bài nghiên cứu nào thể hiện việc lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty có quy mô khác nhau. Đề tài: “Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty có quy mô khác nhau tại Việt Nam” đƣợc chọn để thực hiện nhằm làm rõ tác động của các nhân tố lên việc lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty có quy mô khác nhau, qua đó ta thấy các công ty tại Việt Nam lựa chọn cấu trúc vốn chịu ảnh hƣởng của lý thuyết trật tự phân hạng hay lý 3 thuyết đánh đổi cấu trúc vốn. Việc thực hiện bài nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp hiểu đƣợc lý thuyết nào đang có ảnh hƣởng lớn đến việc lựa chọn cấu trúc vốn tại thị trƣờng Việt Nam và phần nào nhận biết đƣợc đối với doanh nghệp của mình thì nên xây dựng cấu trúc vốn nhƣ thế nào là phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xem xét ảnh hƣởng của các nhân tố lên quyết định lựa chọn cấu trúc vốn của các công ty có quy mô khác nhau tại Việt Nam. Đồng thời qua đó ta thấy đƣợc các công ty khi lựa chọn cấu trúc vốn chịu ảnh hƣởng của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (TOT) hay lý thuyết trật tự phân hạng (POT). Qua đó giúp cho các doanh nghiệp tại Việt Nam có cái nhìn tổng quát về việc sử dụng nợ và xây dựng đƣợc cấu trúc vốn cho phù hợp với đặc điểm của riêng mình. Câu hỏi nghiên cứu: Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu cần tập trung giải quyết 3 câu hỏi sau: - Các nhân tố nào ảnh hƣởng đến việc lựa chọn cấu trúc vốn trong các công ty SMEs và công ty LEs? - Tác động của các nhân tố lên việc lựa chọn cấu trúc vốn giữa các công ty có quy mô khác nhau nhƣ thế nào? - Các công ty tại Việt Nam chịu ảnh hƣởng của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn hay lý thuyết trật tự phân hạng trong quá trình lựa chọn cấu trúc vốn của mình? 1.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu chọn mẫu quan sát là dựa trên báo cáo tài chính của 220 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2012 4 1. Phƣơng pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết cấu trúc vốn của MM, lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (TOT) và lý thuyết trật tự phân hạng (POT). Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) để phân tích hồi quy các nhân tố Tấm chắn thuế phi nợ (NDTS), Lợi nhuận (PROF), Cơ hội tăng trƣởng (GROW), Tài sản vô hình (ITAG) và Quy mô công ty (LN(TA), LN(SLS), LN(EMP)) tác động đến cấu trúc vốn của công ty thông qua mô hình ảnh hƣởng cố định (FEM). Dựa trên kết quả của mô hình, ta tiến hành so sánh với kết quả của các nghiên cứu trƣớc đây.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Bài nghiên cứu này dùng phƣơng pháp định tính và định lƣợng phân tích sự tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của 220 công ty phi tài chính trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2012. Với cách tiếp cận thông qua mô hình ảnh hƣởng cố định (FEM), mô hình ảnh hƣởng ngẫu nhiên (REM) và kiểm định Hausman để nhận iết mô hình nào phù hợp nhất. Chúng tôi hi vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản trị tài chính khi hoạch định chiến lƣợc tài trợ vốn cho doanh nghiệp. Cấu trúc của bài nghiên cứu: Cấu trúc của bài nghiên cứu bao gồm 5 chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài Chƣơng 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây Chƣơng 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận của đề tài 5 CHƢƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY Việc lựa chọn hỗn hợp các chứng khoán khác nhau trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp (lựa chọn cấu trúc vốn) là một trong những vấn đề quan trọng cho các nhà quản trị tài chính của công ty.
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu bằng bài nghiên cứu của Modigliani & Miller (1958) (gọi tắt là lý thuyết MM) với giả định trong thị trƣờng vốn hoàn hảo thì giá trị doanh nghiệp không chịu tác động của việc lựa chọn cấu trúc vốn. Tuy nhiên trong nền kinh tế hiện tại thì việc tồn tại thị trƣờng vốn hoàn hảo là điều không thể xảy ra. Những bất hoàn hảo của thị trƣờng vốn nhƣ thuế, chi phí phá sản, mâu thuẫn đại điện, thông tin bất cân xứng và sự lựa chọn bất lợi đã đƣợc giải thích trong việc sự dụng nợ thông qua lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (TOT) và lý thuyết trật tự phân hạng (POT). Bằng chứng thực nghiệm kiểm tra các lý thuyết trên đƣợc tìm thấy trong các bài nghiên cứu cấu trúc vốn trƣớc đây.
Để hiểu đƣợc bằng chứng nghiên cứu này, một trong những vấn đề quan trọng là phải nhận ra sự khác biệt của các hành vi tài chính giữa các công ty tƣ nhân nhỏ và các doanh nghiệp lớn. Các lý thuyết về cấu trúc vốn: 2.1 Lý thuyết cấu trúc vốn của MM Phân tích của MM dựa trên giả định rằng dòng tiền của doanh nghiệp không phụ thuộc vào quyết định lựa chọn cấu trúc vốn và các nhà đầu tƣ có kỳ vọng tƣơng tự về lợi nhuận của doanh nghiệp. Lý thuyết MM cũng dựa vào giả định thị trƣờng vốn hoàn hảo, nơi mà các nhà đầu tƣ đƣợc cung cấp các thông tin đầy đủ mà không phải trả tiền; đƣợc tự do mua bán chứng khoán mà không phải trả chi phí giao dịch, đƣợc vay vốn với cùng mức lãi suất của công ty và không một nhà đầu tƣ riêng lẻ nào có thể gây ảnh hƣởng lớn đến 6 giá của chứng khoán. Giả định không có thuế thu nhập doanh nghiệp kết hợp với các giả định trên, MM chứng minh rằng đòn ẩy của một công ty không ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của một doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp lựa chọn một hỗn hợp nợ - vốn cổ phần để tài trợ cho một phƣơng án đầu tƣ có nghĩa là họ xác định sự phân chia dòng tiền giữa chủ nợ và cổ đông. Định đề I của MM cho rằng: “giá trị thị trƣờng của bất kỳ một doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn của nó”. Với logic của định đề này thì Myers (2001) cho rằng trong một siêu thị hoàn hảo thì giá trị của một bánh pizza không phụ thuộc vào cách cắt bánh. Cùng với những giả định trên, MM đã đƣa ra lập luận nhƣ sau để chứng minh cho lý thuyết của mình.
Hai ông cho rằng nếu điều hai ông nói trên là không đúng thì quy trình mua án song hành (ar itrage) sẽ xảy ra và đƣa mọi thứ về trạng thái cân bằng của nó. Nếu một trong hai doanh nghiệp không sử dụng nợ có cùng rủi ro kinh doanh bắt đầu vay nợ và lý thuyết MM không đứng vững, giá trị doanh nghiệp này sẽ gia tăng nên giá trị cổ phần của nó cũng gia tăng.