Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt Ở bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định để chiếm giữ, làm chủ của cải vật chất và trong quá trình thực hiện những cách thức đó xuất hiện quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đối với những của cải vật chất đó. Mối quan hệ đó là quan hệ sở hữu.
Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội xuất hiện, tồn tại và phát triển nhƣ một tất yếu khách quan trong đời sống xã hội loại ngƣời, là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải vật chất. Nó đƣợc luật hoá hành quyền sở hữu. Theo Điều 164 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì “quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [27, tr. Đây là ba quyền năng cơ bản hợp thành quyền sở hữu.
Quyền chiếm hữu tài sản là quyền của chủ tài sản tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. Thông thƣờng quyền chiếm hữu đƣợc thực hiện bởi chủ sở hữu tài sản. Nhƣng ngƣời ngƣời không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trƣờng hợp đƣợc chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định đƣợc nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 BLDS). 7 z Quyền sử dụng tài sản là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trong đó hoa lợi là sản vật do tự nhiên mang lại và lợi tức là các khoản thu lời đƣợc từ việc khai thác tài sản.
Ngƣời không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sử dụng tài sản trong trƣờng hợp đƣợc chủ sở hữu giao quyền sử dụng tài sản thông qua hợp đồng hay do pháp luật quy định (Điều 192 BLDS). Quyền định đoạt tài sản là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho ngƣời khác hoặc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình thông qua các hình thức chuyển giao quyền sở hữu nhƣ bán, chuyển nhƣợng, tặng cho, để thừa kế… Trong quá trình thực hiện các quyền nêu trên, chủ sở hữu có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho ngƣời khác thay mình thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo ý chí của chủ sở hữu nhƣng không đƣợc gây thiệt hại hoặc làm ảnh hƣởng đến lợi ích của nhà nƣớc, lợi ích công cộng và quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác. Quyền sở hữu tài sản đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, đƣợc pháp luật tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy định pháp luật trên các lĩnh vực nhƣ dân sự, hình sự, kinh doanh thƣơng mại. Trong pháp luật hình sự, quyền sở hữu tài sản đƣợc bảo hộ thông qua các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam tại chƣơng “Các tội phạm xâm phạm sở hữu”.
Và quyền sở hữu ở đây là quyền sở hữu về tài sản mà không phải quyền sở hữu công nghiệp hay sở hữu trí tuệ. Vì vậy mọi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, hành vi phạm tội về sở hữu có thể xâm phạm cả ba quyền năng thuộc quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu nhƣ tội cƣớp tài sản, trộm cắp tài sản… nhƣng cũng có tội phạm chỉ xâm hại một trong các quyền năng 8 z thuộc quyền sở hữu nhƣ tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản… Đối với một số tội, tuy có hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhƣng không phải là tội xâm phạm sở hữu và không đƣợc các nhà làm luật quy định ở chƣơng “Các tội xâm phạm sở hữu”. Điều này xuất phát từ bản chất của hành vi phạm tội là ngoài việc xâm phạm quan hệ sở hữu, hành vi này còn đồng thời xâm phạm quan hệ xã hội khác và sự xâm phạm này mới thể hiện đƣợc đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì trong trƣờng hợp đó khách thể của tội phạm không phải là quan hệ sở hữu.
Ví dụ nhƣ hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức qua đó xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức đó. Nhƣ vậy, hành vi nhƣ thế nào bị coi là tội phạm xâm phạm sở hữu? Hiện có rất nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này nhƣ: Theo PGS. Nguyễn Văn Huyên: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định tại Chƣơng XIV Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nƣớc, cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo Thạc sỹ Đinh Văn Quế: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân.
Nguyễn Ngọc Hòa: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ bản nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo Thông tƣ 02/2001/TTLN ngày 25/12/2001 của liên ngành TANDTC- VKSNDTC - BTP - BCA hƣớng dẫn áp dụng các tội xâm phạm sở hữu: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản của ngƣời khác. 9 z Theo quan điểm của tác giả, khái niệm tội phạm nói chung hay khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu nói riêng phải có tính tổng quát, phản ánh đƣợc bản chất pháp lý và bản chất xã hội của tội phạm, từ đó phân biệt các tội này với tội phạm khác. Nhìn chung, định nghĩa về khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nêu trên đã đề cập tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng nhƣ khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản – mặt khách quan, tính trái pháp luật hình sự - mặt pháp lý và mặt chủ quan, đó là tội phạm xâm phạm sở hữu do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý.
Tuy nhiên các khái niệm nêu trên chƣa đề cập đến một dấu hiệu quan trọng của tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng, đó là “đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự” của ngƣời thực hiện tội phạm. Đặc điểm này là một trong ba đặc điểm thuộc mặt chủ quan của tội phạm, có ý nghĩa trong việc xác định một hành vi xâm phạm quyền sở hữu có phải là tội phạm hay không. Đặc điểm “tuổi chịu trách nhiệm hình sự” có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi. Bởi lẽ, một ngƣời đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì thông thƣờng sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự (trừ trƣờng hợp bị bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi), nghĩa là ngƣời đó có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi theo quy định của pháp luật hình sự, và khi ngƣời đó thực hiện tội phạm thì mới có lỗi.
Nếu tại thời điểm chủ thể của hành vi thực hiện hành vi ngây thiệt hại về tài sản cho ngƣời khác mà ngƣời đó chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc không có năng lực trách nhiệm hình sự thì chủ thể của hành vi không có lỗi, vì thế không phải là tội phạm. Vì vậy không thể thiếu đặc điểm này trong khái niệm tội phạm nói chung cũng nhƣ trong khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nói riêng. 10 z Từ những phân tích nêu trên, có thể đƣa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu nhƣ sau: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nƣớc, cơ quan, tổ chức và của công dân. Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan xâm hại đến các quyền năng trong quyền sở hữu đối với tài sản, các tội xâm phạm sở hữu đƣợc chia làm 2 nhóm: + Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt đƣợc quy định từ Điều 133 đến Điều 140.
+ Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt đƣợc quy định từ Điều 141 đến Điều 145. Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt và trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt. Trong đó, “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [48, tr. Khái niệm này đã thể hiện đƣợc bản chất của khái niệm chiếm đoạt nhƣng đã đồng nhất dấu hiệu chiếm đoạt với hành vi chiếm đoạt.
Có quan điểm khác lại cho rằng, chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang đƣợc sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình. Chúng đƣợc biểu hiện dƣới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội. Xung quanh khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt còn rất nhiều tranh cãi. Nhƣng cho đến nay, chƣa có một học giả nào đƣa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt.