Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về an ninh quốc gia và tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia * An ninh quốc gia Để làm rõ nội hàm khái niệm về các tội phạm xâm phạm ANQG, việc phân tích và chỉ ra định nghĩ thế nào là ANQG có ý nghĩa rất quan trọng.
Trên phương diện pháp lý hình sự, việc xác định đầy đủ và chính xác nội hàm khái niệm ANQG có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với việc quy định giới hạn các hành vi phạm tội nguy hiểm xâm phạm ANQG, giúp Nhà nước xem xét, lựa chọn chính xác các hành vi nguy hiểm cho xã hội để quy định vào nhóm các tội xâm phạm ANQG nói chung cũng như quy định loại hình phạt và mức hình phạt tương ứng với các tội phạm đó… [20, tr. Ở Việt Nam, thuật ngữ ANQG được quy định khác nhau trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau. Thuật ngữ an ninh quốc gia lần đầu tiên đưa vào sử dụng trong một đạo luật chính thống của nước ta khi Quốc hội thông qua BLHS năm 1985. Cho tới nay, khái niệm ANQG vẫn còn được nhìn nhận với nhiều quan điểm khác nhau do đây là một khái niệm có phạm vi nội dung bao hàm rất rộng, mỗi góc độ tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu lại có một các nhìn khác về khái niệm an ninh quốc 9 z gia.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật An ninh quốc gia năm 2004 thì an ninh quốc gia được hiểu là: “Sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” [35]. Khái niệm an ninh quốc gia trong từ điển bách khoa CAND Việt Nam được hiểu là “sự ổn định và phát triển vững mạnh về mọi mặt của một chế độ xã hội và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. ANQG bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, tư tưởng – văn hoá, xã hội, quốc phòng, đối ngoại…” [3, tr. An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội trong nước, trong đó đề cao: “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia.
An ninh quốc gia đề cập đến sự yên ổn của một quốc gia, ở bên trong thì không có rối loạn, ở bên ngoài thì không bị các quốc gia khác quấy nhiễu, xâm phạm hoặc bị các thế lực thù địch đe dọa”. Tuy nhiên dưới góc độ nghiên cứu của luận văn, để hiểu một cách chính xác nhất dưới góc độ luật hình sự, ANQG được hiểu là hệ thống các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật của Nhà nước điều chỉnh liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, liên quan đến sự tồn tại vững chắc không có gì có thể lay chuyển và sụp đổ của một chế độ xã hội của một quốc gia. Nói tóm lại đối tượng của an ninh quốc gia là những quan hệ liên quan trực tiếp tới sự vững mạnh của tổ quốc Việt Nam cũng như đến các lợi ích của quốc gia bao gồm các mặt về đối nội và đối ngoại. Về đối nội, an ninh quốc gia bao gồm các quan hệ chính trị.
Các quan hệ chính trị này phải được xây dựng dựa trên ý chí và nguyện vọng của nhân dân hay nói cách khác là của tầng lớp giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức, từ đó hình thành nên các quy phạm pháp luật điều chỉnh được 10 z quy định cụ thể tại Hiến pháp và pháp luật quốc gia. Mọi quan điểm và đường lối chính sách quản lý Nhà nước, chính sách pháp luật đều được xây dựng dựa trên ý chí và nguyện vọng của nhân dân, lấy dân làm trọng nhằm đảm bảo cho sự phát triển bình ổn của Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của toàn dân tộc, cũng như bảo vệ lợi ích hợp pháp cho toàn thể nhân dân. Về đối ngoại, một mặt Nhà nước ta khẳng định nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia như trong Điều 1 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời” [33, tr. Mặt khác, Nhà nước ta đồng thời mở rộng các quan hệ giao lưu, hợp tác hữu nghị với nhiều quốc gia trên thế giới trên cơ sở hoà bình, tôn trọng lẫn nhau, các bên cùng có lợi.
Như tại Điều 14 Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã quy định: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [33, tr. Nhìn chung, Việt Nam quan niệm an ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững về mọi mặt của chế độ XHCN, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 11 z Tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cao, gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đối với các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực ANQG, đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị, văn hoá, quốc phòng, an ninh, sức mạnh và sự tồn tại của chế độ Nhà nước, chế độ XHCN, các lợi ích cơ bản của dân tộc, sự đoàn kết thống nhất, trật tự an toàn xã hội xét trên phạm vi quốc gia. Do nhóm khách thể đặt biệt của các tội xâm phạm an ninh quốc gia nên trong pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới đều quy định rất nghiêm khắc và chặt chẽ về nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia để đảm bảo duy trì sự bền vững của chính quyền nhân dân, của nhà nước trước sự xâm hại của các thế lực thù trong, giặc ngoài.
Nhà nước CHXHCN Việt Nam cũng không ngoại lệ. Trong lịch sử hình thành pháp luật hình sự của dân tộc ta, khái niệm về các tội xâm phạm ANQG ở mỗi thời kỳ cách mạng đều có những điểm khác nhau do hoàn cảnh thực tiễn chính trị và xã hội từng giai đoạn. Trước khi BLHS 1985 ra đời, tại Sắc lệnh số 21 ban hành ngày 14/12/1946 gọi tên các tội phạm xâm phạm ANQG là “những hành vi làm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” [11]. Sau đó các tội xâm phạm ANQG được gọi chung tên gọi là các tội phản cách mạng.
Sau khi BLHS năm 1985 ra đời tên gọi của nhóm tội này thay đổi thành các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG. Hiện nay theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, các tội xâm phạm an ninh quốc gia được hiểu là: Những hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm đến các khách thể có tầm quan trọng đặc biệt đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội, chế độ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xâm hại sự tồn tại, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân [43, tr. 12 z Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định về các tội xâm phạm ANQG được nhắc đến ở ngay đầu tiên của Chương XI, phần các tội phạm bao gồm 14 tội. Các tội xâm phạm ANQG được nêu ra tại đây chia làm hai nhóm riêng biệt: Nhóm các tội trực tiếp uy hiếp sự tồn tại của chính quyền nhân dân (Điều 78 và Điều 79 BLHS) và nhóm 2 là các tội trực tiếp uy hiếp sự vững mạnh của chính quyền nhân dân (Từ điều 80 đến Điều 91 BLHS).
Đặc điểm chung của các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều nhằm xâm phạm khách thể đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội và chế độ Nhà nước XHCN Việt Nam. Đặc điểm pháp lý chung của các tội xâm phạm an ninh quốc gia Phân tích các quy phạm pháp luật hình sự quy định về nhóm tội này trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay cũng như trong BLHS hiện hành chúng ta có thể rút ra những đặc trung cơ bản của loại tội phạm này như sau: - Về khách thể: khách thể mà loại tội này xâm phạm đến là những quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của tất cả các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ xã hội đặc biệt ở đây đó là sự ổn định, an ninh- quốc phòng, chế độ chính trị, sự vững bền của chính quyền nhân dân, nền độc lập, tự do, chủ quyền, và sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia mà trong phạm vi PLHS Việt Nam quy định đó chính là chính thể cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Về chủ thể: có thể là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài hoặc người không có quốc tịch; có năng lực và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS năm 1999. Trong một số trường hợp CTTP rất nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì luật hình sự có quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS về việc thực hiện các tội này được quy định tại Khoản Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999.