Đặt vấn đề Sự ra đời của học sâu được coi là một cuộc cách mạng trong thế kỉ 21 [31]. Tư tưởng cho sự ra đời học sâu là mô phỏng quá trình học của não người từ dữ liệu. Kết quả mô phỏng này được biểu diễn bởi mạng học sâu. Mạng học sâu có nhiều tầng gồm tầng đầu vào, các tầng ẩn và tầng đầu ra [2, 31, 81, 114].
Nhiều mạng học sâu đã được đề xuất như mạng nơ-ron truyền thẳng, mạng tích chập, v. Mô hình học sâu là kết quả khi học mạng học sâu từ bộ dữ liệu. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy học sâu đạt được kết quả tương đương hoặc tốt hơn con người trong nhiều bài toán như phân loại ảnh [1], nhận dạng đối tượng [60], nhận dạng khuôn mặt [101], xử lý ngôn ngữ tự nhiên [72], xe tự lái [64, 70], phát hiện mã độc [98, 111] và chăm sóc sức khỏe [58, 116], v. Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mô hình học sâu phân loại ảnh.
Với đầu vào là tập học gồm các ảnh và nhãn tương ứng, lập trình viên sẽ định nghĩa kiến trúc mô hình học sâu cần học, rồi chọn các siêu tham số phù hợp như tốc độ học, số lần lặp, v. để xây dựng mô hình. Để đánh giá chất lượng mô hình học sâu, các độ đo được sử dụng phổ biến gồm độ chính xác, độ chuẩn xác và điểm số F1 [67]. Tuy nhiên, dù mô hình học sâu phân loại ảnh đạt được kết quả tốt với các độ đo nêu trên, mô hình học sâu vẫn có thể có tính chắc chắn chưa đủ tốt [5, 13, 32, 78, 90, 100].
Tính chắc chắn của mô hình học sâu là khả năng mô hình nhận diện được chính xác nhãn của ảnh đầu vào khi ảnh này được 1 thêm nhiễu đối kháng. Khái niệm nhiễu đối kháng và tính chắc chắn lần lượt được mô tả ở Định nghĩa 1 và Định nghĩa 2. Quá trình kẻ tấn công cố tình thêm nhiễu đối kháng vào ảnh đã dự đoán đúng để đánh lừa mô hình gọi là tấn công đối kháng. Ảnh trước khi thêm nhiễu đối kháng và được dự đoán đúng bởi mô hình học sâu gọi là ảnh dự đoán đúng.
Ảnh sau khi thêm nhiễu đối kháng gọi là ảnh đối kháng. Trong đó, nhiễu đối kháng được tính dựa trên những điểm ảnh khác nhau giữa ảnh dự đoán đúng và ảnh đối kháng. [Nhiễu đối kháng] Cho ảnh dự đoán đúng x và mô hình kiểm thử M, véc tơ nhiễu ζ = [ζ0, ζ1,. Để đánh giá được tính chắc chắn của mô hình học sâu, có hai hướng nghiên cứu chính gồm chứng minh tính chắc chắn của mô hình học sâu và sinh ảnh đối kháng.
Đối với hướng chứng minh tính chắc chắn, ba hướng nghiên cứu con sử dụng phổ biến gồm sử dụng bộ giải SMT-Solver [23, 45], sử dụng kĩ thuật làm mịn mức trừu tượng [24, 102, 103] và kĩ thuật giải thích mức trừu tượng [29, 85, 86]. Nhược điểm ba hướng này là không hỗ trợ tốt cho mô hình học sâu phức tạp [115]. Đối với hướng sinh ảnh đối kháng, các phương pháp theo hướng này sinh các ảnh đối kháng và coi đó là bằng chứng thể hiện tính chắc chắn của mô hình học sâu. Ưu điểm của hướng này là dễ dàng áp dụng cho các mô hình học sâu phức tạp nên được sử dụng phổ biến.
Các nghiên cứu tiêu biểu theo hướng này có thể kể đến CW [13], ATN [5], L-BFGS [92], DeepFool [68], BIS [78], MI-FGSM [21], PGD [62], v. Theo hướng sinh ảnh đối kháng, hai tiêu chí phổ biến để đánh giá chất lượng phương pháp tấn công đối kháng gồm chất lượng ảnh đối kháng và tỉ lệ thành công [54]. Công thức đánh giá chất lượng ảnh đối kháng có hai đầu vào chính gồm ảnh dự đoán đúng và ảnh đối kháng tương ứng. Các công thức phổ biến là sử dụng độ đo khoảng cách Lp, độ đo cấu trúc như SSIM [105] và các độ đo khác như PSNR [41].
Đối với tỉ lệ thành công, tiêu chí này thể hiện tỉ lệ ảnh dự đoán đúng được thêm nhiễu đối kháng thành công để sinh ảnh đối kháng. Nếu tỉ lệ thành công là 100% thì tất cả ảnh dự đoán đúng đều được thêm nhiễu đối 2 kháng thành công để mô hình kiểm thử nhận diện sai. Một trong những mục tiêu chính của các phương pháp tấn công đối kháng theo hướng này là sinh ảnh đối kháng với tỉ lệ thành công cao nhất có thể. Hai hướng chính để sinh ảnh đối kháng là kiểm thử hộp đen và kiểm thử hộp trắng [9, 114].
Trong kiểm thử hộp đen, kiểm thử viên giả định rằng họ không biết được kiến trúc và trọng số của mô hình kiểm thử. Kẻ tấn công chỉ có thể truy vấn mô hình kiểm thử thông qua API để lấy kết quả trả về. Kết quả trả về có thể là nhãn dự đoán hoặc véc tơ xác suất của từng nhãn. Trong kiểm thử hộp trắng, kiểm thử viên có thể truy cập kiến trúc và trọng số của mô hình kiểm thử.
Chi phí của kiểm thử hộp trắng thường cao hơn hộp đen do thường phải tính toán đạo hàm hàm mục tiêu của mô hình kiểm thử. Do kiểm thử viên biết được kiến trúc mô hình nên tỉ lệ thành công của kiểm thử hộp trắng thường cao hơn so với kiểm thử hộp đen. Trong hướng kiểm thử hộp trắng, tấn công đối kháng có hai hướng chính gồm tấn công đối kháng có định hướng và tấn công đối kháng không định hướng [1]. Điểm chung của hai hướng này là thực hiện thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng để sinh ảnh đối kháng có nhãn khác nhãn của ảnh dự đoán đúng.
Điểm khác biệt chính giữa hai hướng này là nhãn của ảnh đối kháng. Trong tấn công đối kháng có định hướng, nhãn của ảnh đối kháng cần giống nhãn đích, trong đó nhãn đích được định nghĩa trước khi tấn công. Ví dụ, xét ảnh số chín trong bộ dữ liệu MNIST [56], mô hình kiểm thử nhận diện chính xác nhãn của ảnh này. Kiểm thử viên chọn một nhãn bất kì khác nhãn số chín trong tập nhãn này, ví dụ nhãn số một.
Sau đó, tấn công đối kháng có định hướng sẽ tìm cách thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng để sinh một ảnh đối kháng. Trong đó, mô hình kiểm thử nhận diện ảnh đối kháng này có nhãn số một. Trong tấn công đối kháng không định hướng, nhãn của ảnh đối kháng có thể là bất kì nhãn nào ngoại trừ nhãn của ảnh dự đoán đúng. Hướng tấn công đối kháng không định hướng cho mô hình nơ-ron truyền thẳng sử dụng thực thi tượng trưng được đề xuất lần đầu tiên trong DeepCheck [33].
Tuy nhiên, thực nghiệm cho thấy phương pháp này có tỉ lệ thành công và hiệu năng chưa đủ tốt. Tư tưởng chính của DeepCheck là biến đổi mô hình nơ-ron truyền thẳng thành mã nguồn C. Sau đó, ảnh dự đoán đúng được chuyển thành đầu vào để thực thi trên mã nguồn này. Kết quả thực thi ảnh dự đoán đúng này 3 là một đường thi hành.
Kế tiếp, kĩ thuật thực thi tượng trưng được áp dụng trên đường thi hành này để sinh hệ ràng buộc và sử dụng bộ giải SMT để giải hệ ràng buộc. Nghiệm của hệ ràng buộc tương ứng với ảnh đối kháng và phải có cùng trạng thái kích hoạt nơ-ron với ảnh dự đoán đúng. Nguyên nhân của tỉ lệ thành công và hiệu năng thấp là do DeepCheck sử dụng bộ giải SMT và yêu cầu trạng thái kích hoạt nơ-ron của ảnh đối kháng phải giống ảnh dự đoán đúng. Đối với hệ ràng buộc phức tạp, bộ giải SMT có thể tốn chi phí tính toán khá lớn để tìm nghiệm.
Yêu cầu trạng thái kích hoạt nơ-ron của ảnh đối kháng phải giống ảnh dự đoán đúng sẽ làm giảm vùng không gian thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng để sinh ảnh đối kháng. Trong thực tế, một ảnh dự đoán đúng có nhiều cách thêm nhiễu đối kháng để đạt được mục đích tấn công, mà ảnh đối kháng tương ứng có thể không cùng trạng thái kích hoạt nơ-ron với ảnh dự đoán đúng. Trong hướng tấn công đối kháng có định hướng cho mô hình học sâu, nhiều phương pháp đã đề xuất thiếu tính khái quát hóa. Tính khái quát hóa là khả năng một phương pháp có thể học được cách thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng để sinh ảnh đối kháng và áp dụng tri thức này để thêm nhiễu đối kháng vào ảnh đầu vào mới trong tương lai [5].
Các phương pháp tiêu biểu thiếu tính khái quát hóa có thể kể đến FGSM [32], CW [13], BIM [78], L-BFGS [92], DeepFool [68], MI-FGSM [21], DeepExplore [74], v. Cụ thể, các phương pháp này sẽ thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng một cách độc lập để sinh ảnh đối kháng. Để giải quyết vấn đề thiếu tính khái quát hóa của các phương pháp này, ATN [5] đã được đề xuất để thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng theo độ đo khoảng cách L2. Tư tưởng của ATN là xây dựng mô hình mã hóa tự động để chuyển ảnh dự đoán đúng thành ảnh đối kháng.
Sau khi xây dựng xong mô hình mã hóa tự động, ATN có thể thêm nhiễu đối kháng vào ảnh dự đoán đúng để sinh ảnh đối kháng với chi phí thấp. Tuy nhiên, ảnh đối kháng sinh bởi ATN gặp hai vấn đề gồm chất lượng ảnh đối kháng và tính đa dạng của ảnh đối kháng. Đối với vấn đề chất lượng, ảnh đối kháng sinh bởi ATN thường có nhiều nhiễu dư thừa. Nếu loại bỏ những nhiễu này khỏi ảnh đối kháng, chất lượng ảnh đối kháng theo độ đo L2 tăng lên.
Đối với vấn đề tính đa dạng của ảnh đối kháng, ATN thường thêm nhiễu đối kháng vào mọi điểm ảnh. Nếu kiểm thử viên muốn đánh giá tính chắc chắn bằng cách thêm nhiễu vào các điểm ảnh thuộc vùng biên đối tượng hoặc vùng nền thì ATN không hỗ trợ. 4 Sau khi đã hiểu được bản chất của các phương pháp tấn công đối kháng, nhiệm vụ kế tiếp là chống lại các cuộc tấn công như vậy. Đây là bài toán cải thiện tính chắc chắn.
Các hướng cải thiện tính chắc chắn phổ biến gồm (i) xây dựng lại mô hình kiểm thử [32, 53, 62, 77], (ii) xây dựng một mô hình phân lớp để nhận diện ảnh dự đoán đúng và ảnh đối kháng [38, 66, 104] và (iii) loại bỏ nhiễu đối kháng khỏi ảnh đầu vào [42, 57, 66, 109]. Trong cách tiếp cận (iii), ảnh đầu vào được đi qua một mô hình loại bỏ nhiễu đối kháng, ví dụ như mô hình mã hóa tự động. Ảnh sau khi loại bỏ nhiễu đối kháng sẽ được đẩy vào mô hình kiểm thử để lấy kết quả.