Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp, dữ liệu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả và thảo luận 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan về CTV 2. Khái niệm CTV CTV có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng hiểu chung nhất CTV là một khái niệm tài chính phản ánh tỷ lệ giữa nợ vay trong tổng nguồn vốn và vốn chủ sở hữu mà DN sử dụng. CTV không cố định và sẽ thay đổi trong quá trình kinh doanh của DN, có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng sinh lời và rủi ro kinh doanh tác động đến lợi ích của chủ sở hữu DN.
Các nhân tố cấu thành CTV 2. Nguồn vốn vay Với nền kinh tế thị trường như hiện nay, hầu như không có DN nào thực hiện sản xuất kinh doanh hoàn toàn bằng nguồn vốn tự có, mà phải huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau, trong đó vốn vay góp phần quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của một DN. Nguồn vốn vay là nguồn vốn chủ DN vay để giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN được liên tục, ổn định góp phần đạt được mục tiêu mà nhà quản trị DN đề ra. DN có trách nhiệm phải hoàn trả các khoản vay và lãi vay theo lãi suất và thời hạn ký kết trên hợp đồng.
Nếu một DN có tỷ lệ vốn vay cao thì DN phải cân nhắc tránh tình trạng rủi ro tài chính. Vốn vay khác với vốn chủ sở hữu hoặc vốn cổ phần vì người cho vay vốn không trở thành chủ sở hữu của DN, mà chỉ đơn thuần là chủ nợ và nhà cung cấp vốn vay. Trong thứ tự trả lợi nhuận của DN, vốn vay xếp hàng cao hơn vốn chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là, lãi suất trên vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ trước khi bất kỳ cổ tức nào được trả cho bất kỳ nhà cung cấp vốn chủ sở hữu nào.
7 Việc DN sử dụng vay ngắn hạn hay dài hạn là phụ thuộc vào loại hình kinh doanh cũng như tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của DN trong chu kỳ sản xuất kinh doanh từ đó lựa chọn thời hạn vay phù hợp. Các DN không nên sử dụng bài toán vay ngắn hạn đầu tư trung dài hạn nhằm tránh mất thanh khoản. Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn tối đa từ 12 tháng trở xuống, so với vay dài hạn thì vay ngắn hạn thường có lãi suất thấp hơn được sử dụng chủ yếu nhằm bổ sung những thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động để đáp ứng cho nhu cầu của DN về chi trả các hợp đồng mua bán nhỏ, trả tiền nhân viên, và giải quyết chi phí kinh doanh nhỏ ngay lập tức, nhưng cần thiết như mua hàng hóa, NVL. Vay dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm trở lên, nguồn vốn này được DN huy động bằng cách phát hay trái phiếu hoặc vay từ ngân hàng và các tổ chức tài chính.
Vốn vay dài hạn thường được chủ DN sử dụng để đầu tư mở rộng kinh doanh, mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ bản. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN, được hình thành và phát triển từ các nguồn vốn đóng góp của các cổ đông. Đây là nguồn vốn quan trọng, mang tính chất ổn định, phản ánh tình hình tự chủ về mặt tài chính của DN. Nếu trong CTV, vốn chủ sở hữu chiếm phần lớn thì DN đó đang ở mức an toàn.
Vốn của chủ sở hữu bao gồm: vốn góp và lợi nhuận giữ lại. Vốn đã nhận từ chủ sở hữu chỉ trong trường hợp đặc biệt khi DN phá sản thì DN mới phải hoàn trả lại tiền, còn các trường hợp khác DN sẽ không phải hoàn trả vốn chủ sở hữu đã nhận. Vốn góp là số tiền ban đầu được đầu tư vào kinh doanh để đổi lấy cổ phần hoặc quyền sở hữu. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì DN phải thỏa điều kiện vốn điều lệ mới được cấp phép kinh doanh.
Số lần góp vốn có thể một lần hoặc nhiều lần miễn sao là trong thời hạn pháp luật cho phép và đúng như cam kết góp vốn. Lợi nhuận giữ lại là số tiền lợi nhuận hàng năm mà DN giữ lại để tái đầu tư như phát triển, mua lại hoặc mở rộng DN. Đó còn là thu nhập ròng (sau thuế) còn 8 lại của DN sau khi họ đã trả cổ tức cho các cổ đông. Chỉ tiêu lợi nhuận giữ lại là số liệu mà nhà đầu tư quan tâm và thu hút quyết định của nhà đầu tư.
Các lý thuyết về CTV 2. Lý thuyết M&M (MM Theory) Lý thuyết M&M ra đời năm 1958 do Modigliani và Miller nghiên cứu, được xem là lý thuyết hiện đại về CTV. Đây là nền tảng để phát triển các lý thuyết sau này về CTV, lý thuyết M&M đưa ra hai mệnh đề và xem xét trong hai trường hợp có thuế và không có thuế. Trường hợp không có thuế TNDN Mệnh đề 1 cho rằng trong điều kiện thị trường hoàn hảo thì CTV của DN có vay nợ và không vay nợ là như nhau.
Nghĩa là, khi CTV của DN thay đổi thì giá trị DN không thay đổi và điều đó không tạo ra lợi ích cho cổ đông. Vì vậy, không có CTV tối ưu và nhà quản trị DN sẽ không quan tâm việc điều chỉnh CTV. Phát triển từ mệnh đề 1, mệnh đề 2 chứng minh rằng chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) sẽ không đổi ngay cả khi CTV thay đổi. Trong trường hợp này lợi ích từ lá chắn thuế mang lại bị bỏ qua.
Vì vậy, với mức lãi suất vay trên thị trường, thì chi phí vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí vốn vay, khi DN tăng vay nợ, thì phần tăng chi phí vốn chủ sở hữu sẽ được bù trừ bằng phần giảm chi phí vốn trung bình. Chi phí vốn trung bình không đổi, giá trị DN không đổi. Trường hợp có thuế TNDN Mệnh đề 1 nói về lợi ích từ việc sử dụng nợ của DN. Bởi lẽ, lãi vay là một khoản chi phí hợp lý được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập DN đây được xem là lá chắn thuế mang lại khoản tiết kiệm về thuế cho DN.
Nói cách khác, giá trị DN có vay nợ sẽ bằng giá trị DN không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế do sử dụng nợ. Như vậy, việc sử dụng nợ hay sử dụng ĐBTC làm gia tăng giá trị DN. 9 Khi DN sử dụng nợ, DN sẽ nhận được lợi ích từ lá chắn thuế đồng thời chịu sự tác động của chi phí khốn khó tài chính. Mệnh đề 2 đề cập đến chi phí vốn nhưng không xem xét đến chi phí khốn khó tài chính khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần.
Khi DN gia tăng tỷ lệ nợ quá mức thì lợi ích của lá chắn thuế không đủ bù đắp cho chi phí khốn khó tài chính sẽ dẫn đến rủi ro tài chính, gia tăng nguy cơ phá sản. Nhà quản trị DN giỏi sẽ nhận ra thời điểm DN của mình đạt CTV tối ưu, nghĩa là tạo ra giá trị DN lớn nhất với chi phí vốn bình quân thấp nhất. Khi đó, nếu DN tiếp tục gia tăng sử dụng ĐBTC, thì giá trị DN bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn trung bình bắt đầu tăng. Trên thực tế giả thuyết thị trường hoàn hảo của lý thuyết M&M rất khó xảy ra trong thực tiễn dẫn đến việc áp dụng không phù hợp.
Mặc dù còn nhiều hạn chế song lý thuyết M&M đã tạo ra bước ngoặt khi xem xét trong điều kiện thị trường không hoàn hảo. Đây được xem là tiền đề, là nền tảng góp phần giúp các nhà nghiên cứu sau này tìm ra các nhân tố tác động đến CTV cũng như sự ảnh hưởng của CTV lên giá trị DN. Lý thuyết đánh đổi (Trade of theory) Hai nhà nghiên cứu Kraus và Litzenberger (1973) đã phát triển lý thuyết đánh đổi đưa ra lý thuyết đầu tiên về CTV tối ưu, cho rằng các nhà quản trị DN sẽ tìm ra được thời điểm DN đạt CTV tối ưu. Đó là khi lợi ích của DN là cao nhất dựa vào sự đánh đổi của chi phí và lợi ích từ việc sử dụng nợ vay mang lại.
Lợi ích cận biên của việc tăng thêm nợ giảm xuống khi nợ tăng, trong khi chi phí cận biên tăng, do đó một DN phải cân nhắc lựa chọn đánh đổi này khi chọn số nợ và vốn chủ sở hữu để sử dụng để tài trợ. Để tối đa hóa giá trị DN các nhà quản trị DN sẽ cân nhắc giữa lợi ích và chi phí của nợ vay, từ đó điều chỉnh tỷ lệ nợ mục tiêu cho phù hợp. Lý thuyết đánh đổi phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết M&M nhưng có xem xét sự tác động của thuế thu nhập DN và chi phí kiệt quệ tài chính. Việc sử dụng nợ vay sẽ đem lại lợi ích cho DN đó là tạo ra lá chắn thuế giảm số thuế phải 10 nộp một cách hợp lý, đồng thời cũng làm phát sinh chi phí của nợ vay bao gồm các khoản chi phí trong khi hoàn tất thủ tục phá sản đây là chi phí kiệt quệ tài chính.Vì vậy, DN phải đặc biệt lưu ý để không sử dụng quá nhiều nợ vay, bởi vì những chi phí này rất khó xác định chính xác và đo lường được giá trị cụ thể.
Nhà quản trị DN tận dụng lý thuyết đánh đổi để xác định đòn bẩy mục tiêu và tận dụng lợi ích từ lá chắn thuế tạo ra sẽ cao hơn chi phí kiệt quệ tài chính phát sinh. Bời vì, khi DN tăng vay nợ thì lợi ích của lá chắn thuế tăng lên đồng thời chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng theo. CTV tối ưu với mỗi DN khác nhau là khác nhau và việc xác định thời điểm DN đạt cấu trúc tối ưu là khi chi phí từ việc gia tăng nợ vay bù trừ vừa đủ với chi phí kiệt quệ tài chính phát sinh, điều này dựa vào kinh nghiệm và kiến thức tài chính của nhà quản trị cũng như đặc điểm kinh doanh của DN. Lý thuyết đánh đổi đã chứng minh được những hạn chế của lý thuyết MM trong trường hợp DN vay nợ khi xem xét đến chi phí kiệt quệ tài chính.
Lý thuyết đánh đổi được các nhà nghiên cứu chia thành hai dạng gồm: 2.