CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH 1. Lí luận chung về thương mại nội ngành 1. Khái niệm về thương mại nội ngành Các học thuyết thương mại quốc tế truyền thống giải thích thương mại dựa trên sự khác biệt về năng suất lao động và trang bị các nguồn lực.
Học thuyết Heckcher – Ohlin cho rằng một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố khan hiếm của quốc gia đó. Tuy nhiên lý thuyết này lại bỏ qua nhiều yếu tố quan trọng như: sự khác nhau về thị hiếu, hay sự tương đồng về văn hóa, thị trường, và không thể giải thích hiện tượng thực tế như thương mại hai chiều diễn ra đồng thời trong cùng một ngành. Để lý giải hiện tượng khá thường xuyên trên, lý thuyết về thương mại nội ngành được ra đời. Lý thuyết này được đặt nền móng bởi hai nhà kinh tế học nổi tiếng là Herbert Grubel và Peter Lloyd.
Không giống như những lý thuyết thương mại quốc tế truyền thống giải thích thương mại thông qua sự trao đổi liên ngành giữa các hàng hóa, lý thuyết về thương mại nội ngành giải thích thương mại thông qua sự trao đổi hàng hóa trong nội bộ ngành. Theo đó, thương mại nội ngành (Intra-Industry Trade - IIT) được định nghĩa là thương mại hai chiều, là việc xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các sản phẩm tương tự (Từ Thúy Anh, 2013). Ví dụ, Mỹ đồng thời xuất khẩu và nhập khẩu ô tô từ Nhật Bản, như vậy Nhật Bản và Mỹ đều có sự trao đổi hàng hóa trong nội bộ ngành ô tô, do đó tồn tại quan hệ thương mại nội ngành ô tô giữa Mỹ và Nhật Bản. Phân loại thương mại nội ngành Căn cứ vào đặc tính sản phẩm trao đổi, và giai đoạn trao đổi sản phẩm, thương mại nội ngành chia làm hai loại: thương mại nội ngành theo chiều dọc (Vertical Intra- Industry Trade) và chiều ngang (Horizontal Intra-Industry Trade).
Theo Từ Thúy Anh (2013), thương mại nội ngành theo chiều ngang thế hiện sự trao đổi sản phẩm với các đặc tính khác nhau (các sản phẩm khác nhau về chiều 10 ngang) được sản xuất với sự chuyên sâu về yếu tố giống nhau, mô tả chất lượng sản phẩm tương tự và bán tại mức giá như nhau. Cụ thể hơn, thương mại nội ngành theo chiều ngang liên quan đến sản phẩm tương tự xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời tại cùng một giai đoạn của quá trình sản xuất và chủ yếu là do sự khác biệt về mặt sản phẩm. Một trong những ví dụ về thương mại theo theo chiều ngang là quan hệ thương mại giữa Nhật Bản và EU trong ngành công nghiệp ô tô. Hiện nay, EU và Nhật Bản đều là cường quốc về sản xuất ô tô.
Nhiều người dân tại Nhật Bản thích sử dụng ô tô từ EU, và cũng rất nhiều người ở EU thích sử dụng ô tô Nhật Bản. Cho nên, Nhật Bản cũng nhập khẩu rất nhiều ô tô nguyên chiếc từ EU, và ngược lại Nhật Bản cũng xuất khẩu nhiều ô tô nguyên chiếc mang thương hiệu Nhật bản như Toyota sang thị trường EU. Thương mại nội ngành theo chiều ngang này được giải thích từ sự khác nhau về thị hiếu tiêu dùng của người dân hai nước. Do vậy, cả hai nước đều thu được lợi ích thương mại lớn từ hoạt động thương mại trong ngành ô tô.
Thương mại nội ngành theo chiều dọc sử dụng sự chuyên sâu về yếu tố khác nhau và bán tại các mức giá khác nhau. Cụ thể hơn, thương mại nội ngành theo chiều dọc liên quan đến việc xuất nhập khấu hàng hoá đồng thời trong cùng một ngành, nhưng tại các giai đoạn sản xuất khác nhau, và chủ yếu là do sự chuyên sâu về nhân tố trong một ngành (Từ Thúy Anh, 2013). Thương mại nội ngành theo chiều dọc thường xảy ra trong quan hệ giữa nước đang phát triển như Việt Nam với các nước phát triển. Trong ngành dệt may hiện nay, Việt Nam nhập khẩu rất nhiều nguyên liệu vải, sợi từ Hàn Quốc, Trung Quốc, sau đó chủ yếu tham gia vào giai đoạn gia công tạo thành thành phẩm, rồi xuất khẩu sang thị trường nước khác.
Chính điều này, lợi ích thương mại mà Việt Nam thu được từ chuỗi giá trị toàn cầu trong ngành dệt may rất thấp. Các nhà kinh tế học quốc tế đã tìm nhiều cách để phân rã thương mại nội ngành theo chiều dọc và theo chiều ngang. Đáng chú ý nhất là phương pháp của Kandogan (2003), theo đó chỉ ra sự khác biệt giữa HIIT và VIIT dựa trên chất lượng, được thể hiện bởi giá. Do đó, ông đề xuất phương pháp phân rã thương mại nội ngành thành VIIT và HIIT dựa trên kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu tại các mức khác nhau của việc gộp mà không cần dữ liệu lượng xuất khẩu và nhập khẩu.
11 Mức cộng gộp cao hơn xác định ngành (i), và mức cộng gộp thấp hơn xác định các sản phẩm khác nhau trong mỗi ngành (p). Dưới đây là ví dụ về ngành và sản phẩm theo SITC. Theo SITC, ngành (i) – Các hóa chất và sản phẩm liên quan, được chia nhỏ thành những sản phẩm khác nhau (p) như 51- Hóa chất hữu cơ, 52- Hóa chất vô cơ, 53- Các chất tạo màu và nhuộm màu. Bảng mã ngành và sản phẩm theo SITC Ngành (i) Sản phẩm ngành (p) 5- Các hóa chất và sản phẩm có liên 51- Hóa chất hữu cơ quan 52- Hóa chất vô cơ 53- Các chất tạo màu, nhuộm màu ….
(Nguồn: United Nations Statistics Divistion) Bằng cách sử dụng mức độ gộp cao hơn (tại cấp ngành), tổng thương mại nội ngành (IIT) được tính bằng kim ngạch xuất khẩu tương xứng với nhập khẩu. Thương mại nội ngành theo chiều ngang được tính bằng kim ngạch thương mại thương xứng trong mỗi sản phẩm của một ngành bằng cách sử dụng mức gộp thấp hơn (tại cấp sản phẩm). Phần còn lại của thương mại nội ngành là thương mại nội ngành theo chiều dọc, là thương mại của các sản phẩm khác nhau trong một ngành. Phần không tương xứng của tổng thương mại (TT) trong ngành được coi là thương mại liên ngành (Inter Industry Trade- INT).
Cụ thể như sau: Tổng thương mại: TTi = ∑𝑝(𝑋𝑖𝑝 + 𝑀𝑖𝑝) = Xi + Mi Thương mại nội ngành: IITi = TTi - |Xi-Mi| Thương mại liên ngành: INTi = TTi – IITi Thương mại nội ngành theo chiều ngang: HITi = ∑𝑝(𝑋𝑖𝑝 + 𝑀𝑖𝑝 − |Xip − Mip| ) Thương mại nội ngành theo chiều dọc: VIITi = IITi- HIITi Trong đó: 12 TTi: Tổng giá trị thương mại ngành i INTi: Giá trị thương mại liên ngành i IITi: Giá trị thương mại nội ngành i HITi: Giá trị thương mại theo chiều ngang của ngành i VIITi: Giá trị thương mại theo chiều dọc của ngành i Xi: Tổng giá trị xuất khẩu ngành i Mi: Tổng giá trị nhập khẩu ngành i 𝑋𝑖𝑝: Giá trị xuất khẩu sản phẩm p thuộc ngành i 𝑀𝑖𝑝: Giá trị nhập khẩu sản phẩm p thuộc ngành i Ngành dệt may bao gồm các ngành có mã 2 chữ số từ 50-63 trong danh mục hài hoà về mô tả và mã hoá hàng hoá (HS). Để xác định được giá trị thương mại nội ngành theo chiều ngang, ta sẽ tính giá trị thương mại nội ngành theo từng mã HS như sau: Từ bảng dưới ta thấy, chỉ số thương mại nội ngành là: IITi = |Xi+Mi|- |Xi-Mi| =39424253+20829517-|39424253- 20829517| = 41659034 (Nghìn USD) Trong đó, chỉ số thương mại nội ngành theo chiều ngang: HITi = ∑𝑝(𝑋𝑖𝑝 + 𝑀𝑖𝑝 − |Xi − Mi| ) = 16119618 (Nghìn USD) Chỉ số thương mại nội ngành theo chiều dọc: VIITi = IITi- HIITi = 41659034 – 16119618 = 25539416 (Nghìn USD) 13 Bảng 1. 2 Minh họa phương pháp phân rã cho ngành dệt may (Đơn vị: Nghìn USD) Mã X M X+M X-M HIIT HS '50 108791 52321 161112 56470 104642 '51 6798 317294 324092 310496 13596 '52 3055101 4373633 7428734 1318532 6110202 '53 35633 105208 140841 69575 71266 '54 1132715 3398692 4531407 2265977 2265430 '55 649469 2959302 3608771 2309833 1298938 '56 408855 912543 1321398 503688 817710 '57 172417 71145 243562 101272 142290 '58 120689 1080868 1201557 960179 241378 '59 712427 1465219 2177646 752792 1424854 '60 1167525 5446161 6613686 4278636 2335050 '61 14884923 223620 15108543 14661303 447240 '62 15153098 268714 15421812 14884384 537428 '63 1815812 154797 1970609 1661015 309594 Tổng 39424253 20829517 16119618 (Nguồn: Tác giá tính toán từ số liệu của ITC) 1. Phương pháp đo lường chỉ số thương mại nội ngành Những người khởi xướng về lý thuyết thương mại nội ngành là Balassa (1966), Grubel và Lloyd (1975).
Chỉ số đo lường thương mại nội ngành là chỉ số Grubel- Lloyd (1975). Theo Grubel- Lloyd (1975), Chỉ số này được tính như sau: 14 (𝑋𝑖+𝑀𝑖)−|𝑋𝑖−𝑀𝑖| |𝑋𝑖−𝑀𝑖| IITi = =(1 − ) 𝑋𝑖+𝑀𝑖 𝑋𝑖+𝑀𝑖 Trong đó: IITi là tỷ phần của thương mại nội ngành trong tổng thương mại của ngành i, Xi và Mi lần lượt là xuất khẩu và nhập khẩu của ngành i. Phần còn lại là tỷ trọng thương mại liên ngành: INTi = 1- IITi Chỉ số IITi chạy từ 0 đến 1. Chỉ số IIT càng gần 1 thì mức độ thương mại nội ngành càng cao.
Cụ thể: Nếu IITi =0 thì |Xi- Mi |=Xi +Mi, tức là Xi =0 hoặc Mi=0, khi đó chỉ tồn tại quan hệ thương mại một chiều là chỉ xuất khẩu hoặc chỉ nhập khẩu. Do đó, thương mại giữa hai quốc gia là thương mại liên ngành hoàn toàn. Nếu IITi =1 thì Xi-Mi = 0, khi đó giá trị xuất khẩu và nhập khẩu sẽ bằng nhau, do đóthương mại giữa hai quốc gia là thương mại nội ngành hoàn toàn. Để đánh giá cụ thể về mức độ thương mại nội ngành, Duran và Alvarez (2008) đã phân IIT thành 3 nhóm như sau: Bảng 1.
3 Phân loại mức độ thương mại nội ngành thông qua hệ số IIT STT Nhóm Mức độ thương mại nội ngành 1 IIT>0,33 Thương mại nội ngành 2 0,1≤ IIT ≤ 0,33 Có tiềm năng thương mại nội ngành 3 IIT<0,1 Không có thương mại nội ngành (thương mại liên ngành) (Nguồn: Duran và Alvarez, 2008)) |𝑋𝑖−𝑀𝑖| 9 Khi chỉ số IIT<0,1 thì > , do đó chênh lệch giữa Xi và Mi là rất lớn. 𝑋𝑖+𝑀𝑖 10 Cụ thể Xi lớn hơn 19 lần Mi hoặc Mi lớn hơn 19 lần Xi. Khi chỉ số IIT càng nhỏ thì 15 mức chênh lệch sẽ càng lớn, do đó phần lớn thương mại của quốc gia chỉ diễn ra theo một chiều, hay tồn tại dưới dạng quan hệ thương mại liên ngành. |𝑋𝑖−𝑀𝑖| 2 Ngược lại, khi chỉ số IIT> 0,33 thì < , do đó chênh lệch giữa Xi và 𝑋𝑖+𝑀𝑖 3 Mi là không nhiều.
Cụ thể Mi < Xi < 5Mi, hoặc Xi < Mi< 5Xi. Quốc gia này sẽ tồn tại cả xuất khẩu và nhập khẩu một lượng tương đối lớn của cùng một mặt hàng, vì vậy xảy ra thương mại nội ngành.