Chương 1 thì trong Chương 2 việc cần thiết là tìm hiểu có những nghiên cứu nào? Những khái niệm nào? Có liên quan mật thiết đến chủ đề nghiên cứu là rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng sẽ được tiếp phân tích, lược khảo làm lý thuyết nền tảng cho toàn bộ nghiên cứu.1 TỔNG QUAN VỀ THẺ TÍN DỤNG 2.1 Khái niệm thẻ tín dụng Theo Buzzel & American Bankers Association, (2014) trang 107 có đưa ra một số giải thích về thẻ tín dụng phổ biến hiện nay cho phép khách hàng tiếp cận đến tài khoản tín dụng của khách hàng tại ngân hàng. Giống như thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng cho phép khách hàng sử dụng ở bất kỳ máy ATM nào để rút tiền hoặc chi trả các khoản mua sắm tại các điểm chấp nhận thẻ. Khách hàng thường dùng thẻ tín dụng nhiều hơn thẻ ghi nợ vì họ được hưởng các chính sách về lãi suất, được tích điểm để đổi quà tặng khi sử dụng thẻ, một số loại thẻ liên kết với các hãng hàng không để quy đổi điểm thưởng sang dặm bay miễn phí. Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ.
Theo Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, (2019) thẻ tín dụng được ngân hàng cấp cho chủ thẻ với một hạn mức nhất định dựa trên cơ sở đánh giá và thẩm định uy tín tín dụng, mức lương hàng tháng của chủ thẻ hoặc số tiền ký quỹ hay tài sản mà chủ thẻ đảm bảo tại ngân hàng, ngân hàng còn chấp nhận chứng chỉ gửi vàng và kỳ phiếu. Theo Hardekopf, Oldshue, & Oldshue, (2008) trang 03 có đề cập rằng mỗi tháng, ngân hàng sẽ gửi cho khách hàng sao kê thẻ thông qua bưu điện hoặc thư điện tử. Trên sao kê sẽ thể hiện chi tiết những giao dịch mà chủ thể đã thực hiện trong kỳ sao kê đó, trên sao kê cũng thể hiện số tiền cần phải thanh toán, 6 số tiền tối thiểu cần phải thanh toán và các mức phí áp dụng. Những giao dịch bị lỗi cũng được thể hiện trên sao kê hoặc khi ngân hàng thay đổi các chính sách về thẻ tín dụng cũng sẽ thông báo cho khách hàng thông qua sao kê về các điều khoản đã được thay đổi cũng như những lưu ý quan trọng dành cho khách hàng.
Khách hàng có thể trả một phần sao kê thông thường từ 1% đến 5% dư nợ tín dụng của kỳ sao kê đó. Tuy nhiên, nếu khách hàng chỉ thanh toán dư nợ tín dụng tối thiểu theo sao kê thì tháng tiếp theo khách hàng phải thanh toán một số tiền lớn, mỗi ngân hàng thường có thời gian chờ thanh toán từ 15 đến 20 ngày nếu quá thời hạn mà khách hàng chưa thanh toán hoặc sử dụng quá hạn mức tín dụng, thì khách hàng phải chịu mức phí và lãi suất rất cao điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến điểm số tín dụng của khách hàng. Tuỳ theo mức thu nhập và sự tín nhiệm của khách hàng mà ngân hàng sẽ có những hạng thẻ khác nhau như hạng thẻ chuẩn, hạng thẻ vàng và bạch kim. Ngoài ra, ngân hàng còn có những loại thẻ riêng đồng thương hiệu, những loại thẻ này được liên kết với các trung tâm mua sắm, nhà hàng, khách sạn, sân gôn hay hãng hàng không…đây là sự liên kết giữa ngân hàng và các đối tác nhằm giúp cho khách hàng hưởng được những đặc quyền khi thực hiện thanh toán tại những điểm chấp nhận thẻ đồng thương hiệu.
Ngoài ra, việc phân loại và đối tượng tham gia hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng cũng được đề cập trong nhiều nghiên cứu (Xem phụ lục 1).2 Đặc điểm và vai trò của thẻ tín dụng 2.1 Đặc điểm thẻ tín dụng Sự thuận tiện, theo Hardekopf và c., (2008) trang 02 có nêu Thẻ tín dụng là một hình thức thuận tiện vì nó được chấp nhận rộng rãi. Khách hàng chỉ cần xuất trình thẻ tín dụng khi thanh toán, thẻ sẽ được tra vào máy đọc thẻ. Thông tin thẻ sẽ được mã hoá và xác thực với ngân hàng thông qua mạng Internet, việc thanh toán sẽ diễn ra ngay lập tức. Tính an toàn, thì hầu hết ngân hàng áp dụng dịch vụ chuyển khoản điện tử và trung tâm thanh toán bù trừ, giảm thiểu tối đa thời gian chờ cho khách 7 hàng.
Theo Mayes & Markantonakis, (2008) thẻ được tích hợp công nghệ EMV sẽ có gắn chíp bên trong đóng vai trò là “não bộ” của thẻ, mọi thông tin thẻ được mã hoá trên vi mạch này, khi có sự tác động cố tình sao chép thì thẻ sẽ bị hỏng vĩnh viễn giúp đảm bảo an toàn tuyệt đối trên thẻ nếu chẳng may bị đánh cắp hoặc thất lạc. Khi xảy ra sự cố chỉ cần gọi vào đường dây nóng khách hàng sẽ được hỗ trợ khẩn cấp về thẻ. Sản phẩm thẻ đa dạng Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, (2019) cung cấp những sản phẩm thẻ tín dụng dành riêng cho khách hàng sở hữu xe ô tô, lĩnh vực giáo dục hoặc thường xuyên du lịch nước ngoài. Theo Phương Thanh, (2012) thì ngoài các sản phẩm thẻ thông dụng còn các sản phẩm thẻ cao cấp dành cho những chủ thẻ có mức tín nhiệm tín dụng tốt và có nhu cầu chi tiêu nhiều mỗi tháng.
Tuỳ theo mức thu nhập của khách hàng mà ngân hàng sẽ cấp hạn mức thẻ tín dụng khác nhau.2 Vai trò của thẻ tín dụng Đối với khách hàng sở hữu thẻ tín dụng không cần thiết phải mang nhiều tiền mặt theo bên người giúp giảm thiểu rủi ro ngoài ý muốn khi mang tiền mặt như việc kiểm đếm và mất cắp. Chủ thẻ cũng có thể rút tiền mặt tại các máy ATM chấp nhận thẻ. Khách hàng được hưởng các quyền lợi từ thẻ tín dụng mang lại như được tích luỹ điểm hay hoàn tiền. Thẻ tín dụng cung cấp một số tiện ích khác cho chủ thẻ như thanh toán trực tuyến qua Internet, dịch vụ bảo mật thông qua mã xác thực sử dụng một lần (OTP), dịch vụ thanh toán toàn cầu, giúp tăng tối đa tiện ích cho chủ thẻ.
Những địa điểm chấp nhận thanh toán thẻ sẽ có lợi về mặt kinh doanh, sử dụng tiền mặt sẽ chịu phí kiểm đếm, nạn tiền giả, mất cắp hay lừa đảo. Chấp nhận thanh toán thẻ, sẽ giúp cho điểm bán hàng thu hút được khách hàng có thẻ tín dụng, đa dạng hoá phương thức thanh toán. Một số trung tâm mua sắm điện máy còn có những chương trình liên kết với ngân hàng với những chương trình trả góp với lãi suất ưu đãi thông qua thẻ tín dụng giúp cho khách hàng có thể sở hữu những món hàng yêu thích với chi phí thấp. 8 Ngoài việc giảm thiểu thời gian trong khâu thu và kiểm đếm tiền, ngân hàng còn có thêm các khoản thu từ thẻ như phí phát hành, phí thường niên thẻ tín dụng, lãi suất cho vay đối với những khách hàng ứng rút tiền mặt hoặc vay tiêu dùng thông qua thẻ tín dụng.
Mỗi ngân hàng sẽ đa dạng hoá các sản phẩm thẻ tín dụng như phát hành nhiều loại thẻ tín dụng với những ưu đãi và đặc quyền khác nhau, đây cũng là một tiêu chí để khách hàng lựa chọn ngân hàng phù hợp với nhu cầu. Phát triển thẻ tín dụng đòi hỏi hạ tầng công nghệ kỹ thuật, vì để thẻ tín dụng có thể đến tay được khách hàng và sử dụng được thì cần sự đầu tư từ khâu phát hành, công nghệ với tính bảo mật cao, thiết bị máy móc hiện đại với hạ tầng mạng lưới công nghệ với độ bao phủ rộng khắp. Thẻ tín dụng làm hạn chế thói quen sử dụng tiền mặt giúp giảm thiểu chi phí trong khâu phát hành, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm tiền hạn chế vấn nạn tiền giả. Kiểm soát dòng tiền thuận tiện hơn do các giao dịch qua thẻ tín dụng được ghi lại theo thời gian thực, dữ liệu trích xuất dễ dàng giúp các cơ quan quản lý tiền tệ đưa ra các quyết định kịp thời.
Chính sách chi tiêu trước, trả tiền sau giúp khách hàng dễ dàng sở hữu sản phẩm ưa thích giúp kích cầu nền kinh tế. Đối với du lịch, thu ngoại tệ từ khách nước ngoài mua sắm qua thẻ tín dụng, không cần mang theo nhiều ngoại tệ khi đi du lịch.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG Theo Lee, Lin, & Chen, (2011) đã nêu lên định nghĩa rủi ro là sự tổn thất hoặc mất mát. Một số rủi ro có thể đo lường, phân tích, thông qua đó tìm ra những giải pháp giúp quản trị rủi ro tốt nhất. Theo Ghosh, (2012) thì rủi ro có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong hoạt động của ngân hàng, khi xảy ra rủi ro sẽ gây nên sự tổn thất.
Sự tổn thất này được đo lường bởi sự thay đổi giá trị tài sản hoặc giá cổ phiếu so với giá hiện tại, tổn thất gây ra sự trì trệ trong hoạt động của ngân hàng đôi khi gây ra sự sụp đổ không đáng có của một số ngân hàng thương mại. 9 Theo Greuning & Brajovic Bratanovic, (2009) trang 3 có nêu lên thông thường, rủi ro ngân hàng được chia làm ba loại rủi ro chính, rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động và rủi ro môi trường. Tuy nhiên, theo Galai, Ruthenberg, Sarnat, & Schreiber, (1999) trang 17 phân rủi ro ngân hàng ra làm bốn rủi ro chính là rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Theo Mai Bình Dương & Lê Đình Hạc, (2017) trang 313 có định nghĩa rủi ro tín dụng chính là khả năng mà khách hàng đi vay một khoản từ ngân hàng nhưng lại không thực hiện được một hay tất cả các nghĩa vụ mà khách hàng cam kết với ngân hàng được thể hiện trên hợp đồng cho vay.
Khi xảy ra rủi ro tín dụng hậu quả sẽ dẫn đến sự tổn thất từ phía ngân hàng và nghiêm trọng hơn là tình trạng vỡ nợ của khách hàng đối với ngân hàng do khách hàng không thể trả nổi tiền gốc lẫn lãi cho ngân hàng gây ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.1 Khái niệm Theo Trịnh Hoàng Nam & Trần Thị Hồng Hà, (2016) trang 55 thì rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng xảy ra khi dư nợ thẻ tín dụng vượt quá mức chi trả dẫn đến tình trạng chủ thẻ khó hoặc không có khả năng chi trả các khoản đã sử dụng.