phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 5 chương 5 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Trình bày tổng quan một số mục để giới thiệu về nghiên cứu, bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối cùng là đóng góp của nghiên cứu. CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Trình bày cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lời và các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời. Bên cạnh đó, chương 2 còn trình bày khảo lược các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc lựa chọn các biến tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM cổ phần Việt Nam. CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày quy trình và các bước tiến hành nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài, lựa chọn các biến đưa vào mô hình và đặt ra các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu.
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trình bày về các kết quả hồi quy của dữ liệu và thực hiện một số kiểm định quan trọng để đưa ra kết quả hồi quy thực nghiệm. Cuối cùng, chương này tiến hành kiểm tra xem kết quả hồi quy thu được có giống với kỳ vọng các giả thuyết đã được đặt ra hay không. CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Chương này tác giả sẽ tổng kết lại những nội dung đã thực hiện trong các chương, đưa ra hàm ý quản trị đối với các yếu tố có tác động tới khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, chương 5 cũng trình bày những hạn chế nhất định của đề tài nhằm đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM 2.1 Khái niệm Thuật ngữ lợi nhuận có thể mang ý nghĩa kinh tế hoặc được hiểu theo khái niệm kế toán, nó đại diện cho phần thu nhập lớn hơn chi phí phát sinh trong một khoảng thời gian xác định. Khả năng sinh lời là chỉ số quan trọng và đáng tin cậy nhất vì nó mang lại cái nhìn bao quát về khả năng tăng mức thu nhập của một tổ chức. Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào lợi nhuận mà tổ chức có thể kiếm được.
Theo Al-Shami (2008), có nhiều cách khác nhau để đo lường khả năng sinh lời như lợi nhuận trên tổng tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là một chỉ số cho biết mức độ sinh lời của một công ty so với tổng tài sản của nó, trong khi tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lời của công ty, cho thấy công ty tạo ra bao nhiêu lợi nhuận so với số tiền mà các cổ đông đã đầu tư. Theo Hifza (2011), khả năng sinh lời là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong quản lý tài chính vì một trong những mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu và khả năng sinh lời là thước đo hiệu suất rất quan trọng. Một doanh nghiệp không có lợi nhuận không thể tồn tại, trong khi một doanh nghiệp có lợi nhuận cao có thể mang lại cho chủ sở hữu một khoản lợi tức lớn từ khoản đầu tư của họ.
Do đó, mục tiêu của một chủ thể kinh doanh là thu được lợi nhuận để đảm bảo sự bền vững của doanh nghiệp. Theo Heibati và cộng sự (2009) khả năng sinh lời là sự chênh lệch giữa chi phí và doanh thu trong một khoản thời gian cố định, thường là một năm tài chính. Có thể 7 hiểu rằng, khả năng sinh lợi là khả năng của một ngân hàng tạo ra thu nhập từ việc sử dụng các nguồn lực có sẵn nhằm bù đắp cho các chi phí bỏ ra cho nhu cầu tăng trưởng và mở rộng. Theo Nguyễn Văn Ngọc (2012) khả năng sinh lời là một con số đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử tất cả các điều kiện hoạt động hiện tại nói chung là không đổi.
Khả năng sinh lời phản ánh mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận của một doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định. Thông thường, khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ được tính bằng công thức tổng lợi nhuận chia cho tổng tài sản sử dụng, số người lao động hoặc khối lượng tư bản dài hạn. Nói một cách dễ hiểu, khả năng sinh lời là khả năng một doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình để tạo ra doanh thu vượt trên chi phí. Tóm lại, khả năng sinh lời là một loại chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá khả năng tạo thu nhập của doanh nghiệp so với doanh thu, chi phí hoạt động, tài sản trên bảng cân đối kế toán hoặc vốn chủ sở hữu theo thời gian, sử dụng dữ liệu từ một thời điểm cụ thể.
Khi nhìn vào chỉ số này chúng ta có thể thấy được hiệu quả tài chính và sức khỏe của doanh nghiệp.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng khả năng sinh lời của NHTM Có rất nhiều chỉ tiêu được dùng để đo lường khả năng sinh lời của các NHTM. Nhưng theo Hassan và Bashir (2003), ROA và ROE là hai chỉ số phổ biến nhất được dùng để đo lường khả năng sinh lời trong lĩnh vực ngân hàng. Những nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008), Mamatzakis và Remoundos (2003), Staikouras và Wood (2004), Obamuyi (2013) và Dao (2020) đã sử dụng ROA và ROE như chỉ tiêu đại diện cho khả năng sinh lời trong nghiên cứu của mình. Dựa trên lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm đã nêu, tác giả quyết định chọn ROA và ROE làm chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời trong nghiên cứu này.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản 8 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều là những khoản đầu tư sinh lãi mỗi ngày ngoại trừ hai loại tài sản tiền mặt và tài sản cố định. Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có. ROA cao cho thấy ngân hàng có cơ cấu tài sản có hợp lý, có sự điều động đổi linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế. Do vậy ROA còn phản ánh khả năng thích ứng của ban lãnh đạo ngân hàng trước những thay đổi chung của nền kinh tế.
Theo Hassan và Bashir (2003), ROA thể hiện lợi nhuận thu được trên một đơn vị tài sản và phản ánh khả năng quản lý tận dụng các nguồn lực tài chính và đầu tư thực tế của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROA đã nổi lên như một tỷ lệ chính để đánh giá khả năng sinh lời và đã trở thành thước đo phổ biến nhất về khả năng sinh lời của ngân hàng trong tài liệu (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Garcia-Herrero và cộng sự, 2009; Golin, 2001). Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sỡ hữu, đo lường khả năng lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng. Tỷ lệ ROE phản ánh lợi nhuận kiếm được từ một đơn vị vốn chủ sỡ hữu.
Vốn chủ sỡ hữu bao gồm vốn của ngân hàng và các quỹ dự trữ, qua đó tỷ lệ này cho biết khả năng sử dụng vốn cổ phần của ngân hàng nên ROE có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông. ROE càng lớn thì việc quản lý 9 sử dụng vốn cổ đông càng hiệu quả, ROE càng lớn cho thấy kết quả hoạt động trên vốn cổ phần của ngân hàng tốt. Mặc dù ROE thường được sử dụng như một thước đo khả năng sinh lời, nhưng nó vẫn có một số khuyết điểm. Bởi vì các ngân hàng sử dụng đòn bẩy thấp thường có ROA cao hơn nhưng ROE thấp hơn.
Hơn nữa, ROE bỏ qua rủi ro liên quan đến đòn bẩy cao hơn và tác động của quy định đối với đòn bẩy (Dietrich & Wanzenried, 2011).2 CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN Có nhiều lý thuyết khác nhau về khả năng sinh lời đã được phát triển theo thời gian liên quan đến bản chất của lợi nhuận trong một nền kinh tế cạnh tranh. Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây về khả năng sinh lời của ngân hàng chủ yếu dựa trên 2 lý thuyết là Lý thuyết sức mạnh thị trường và Lý thuyết cấu trúc hiệu quả. Lý thuyết sức mạnh thị trƣờng (The market power theory) Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng bị ảnh hưởng bởi cấu trúc thị trường của ngành được nêu bởi lý thuyết sức mạnh thị trường được đưa ra bởi Tregenna (2009). Định lý SCP và RMP là hai cách tiếp cận khác nhau của lý thuyết sức mạnh thị trường.
Cách tiếp cận SCP (Structure-Conduct-Performance) nói rằng các ngân hàng trong thị trường tập trung cao có nhiều tiềm năng tăng lợi nhuận hơn so với các ngân hàng trong thị trường tập trung thấp vì các ngân hàng có cơ hội nhận tiền gửi với lãi suất thấp hơn và phân bổ các khoản vay với lãi suất cao hơn do sự hiện diện của môi trường độc quyền (Tregena, 2009). Mô hình SCP, được giải thích bởi hầu hết các nghiên cứu ban đầu về các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đã chứng minh mối liên hệ tích cực giữa mức độ tập trung và lợi nhuận. Mức độ tập trung của thị trường thường được đo bằng tỷ lệ tập trung, tỷ lệ của toàn bộ thị trường được kiểm soát bởi một số lượng nhỏ các công ty. Mô hình SCP đã đưa ra giả thuyết thông đồng, trong đó một số ít ngân hàng có 10 thể có sự thông đồng ngấm ngầm hoặc rõ ràng, dẫn đến lãi suất cao hơn đối với các khoản vay, phí dịch vụ và lãi suất nhỏ hơn trả cho tiền gửi của khách hàng.
Điều này cuối cùng sẽ dẫn tới việc thu được lợi nhuận cao hơn. Cách tiếp cận RMP nói rằng lợi nhuận mà các ngân hàng thu được bị ảnh hưởng bởi cổ phiếu của họ trên thị trường. Cách tiếp cận này đưa ra giả định rằng các ngân hàng có thị phần lớn, sản phẩm đa dạng mới có thể phát huy sức mạnh thị trường của mình để định giá và kiếm lời, có nhiều quyền lực hơn trên thị trường (Tregenna, 2009).