Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề chung về bút pháp tả cảnh ngụ tình trong văn học trung đại Việt Nam Chương 2: Bút pháp tả cảnh ngụ tình trong văn học trước thế kỷ XVIII và trong Chinh phụ ngâm khúc Chương 3: Bút pháp tả cảnh ngụ tình trong Truyện Kiều 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÚT PHÁP TẢ CẢNH NGỤ TÌNH TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1. Một số khái niệm và thuật ngữ: 1. Bút pháp nghệ thuật 1. Trong Từ điển Hán – Việt, học giả Đào Duy Anh đã đề cập đến những nét nghĩa khác nhau của hai từ “bút”, “pháp”.
Hiểu một cách sơ lược gần gũi nhất “bút” là biên chép, “pháp” là phép tắc nhất định [1; tr. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “bút pháp là cách viết văn, cách hành văn. Bút pháp nghệ thuật là cách dùng chữ, cách bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh trong tác phẩm. Do trực tiếp gắn với lối viết, cách viết nên khái niệm bút pháp có phần tương đồng với khái niệm phong cách, văn phong, tuy nhiên nó chỉ là yếu tố của phong cách” [10; tr.
Như vậy, nghĩa đen của bút pháp nghệ thuật là cách nói, cách viết. Nói một cách khái quát hơn đó là cách dùng chữ, cách hành văn. Theo tác giả Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt: “Bút pháp là cách dùng ngôn ngữ hoặc đường nét, màu sắc, hình khối, ánh sáng để biểu hiện hiện thực, thể hiện tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật” [36; tr. Ở đây, bút pháp nghệ thuật là cách sử dụng chất liệu ngôn từ để biểu hiện hiện thực và tư tưởng.
Tóm lại, khái niệm bút pháp nghệ thuật có thể hiểu là cách dùng chữ, cách hành văn, cách bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh phản ánh, biểu đạt nội dung tư tưởng của tác phẩm. Tả cảnh ngụ tình Trước hết chúng ta cần phải hiểu “cảnh” là gì? Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng, 2009), cảnh là “toàn bộ sự vật, hiện tượng bày ra trước mắt ở một nơi, một lúc nào đó”. Cảnh là một không gian, nên nó được coi là không gian tự nhiên hoặc không gian nhân tạo. Cảnh là một tổng thể các sự vật, hiện tượng cùng tồn tại trong một khoảng không – thời gian xác định.
Một cảnh được hội tụ bởi các yếu tố: không – thời gian và người quan sát. Bởi vì cùng một không – thời gian xác định, người quan sát khác nhau sẽ có những cảnh không giống nhau. Cũng trong Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê đã nêu ra 18 trường hợp xuất hiện từ cảnh, trong đó có 4 trường hợp từ “cảnh” chỉ yếu tố thiên nhiên. Chẳng hạn “cảnh sắc” được hiểu là “cảnh thiên nhiên với những nét riêng đặc sắc của nó” và “cảnh tượng” được hiểu là “cảnh bày ra trước mắt và gây những ấn tượng nhất định” [36; tr.
Như vậy, cảnh được hiểu là những yếu tố thiên nhiên tồn tại bên ngoài đời sống của con người. Con người có thể quan sát, mô tả lại theo sự hình dung và tưởng tượng của mình. Thứ hai là “tình”. Cũng theo tác giả Từ điển tiếng Việt, “tình” cũng có khoảng 35 trường hợp xuất hiện.
“Tình” vừa có vai trò là tính từ vừa có vai trò là động từ. Trong trường hợp này “tình” đóng vai trò là tính từ. Theo ông Hoàng Phê, “tình” mang nghĩa tính từ chỉ “tình cảm, hoàn cảnh” [36; tr. 1279] của con người.
Đây chính là những trạng thái nhận thức thuộc về tâm lí và điều kiện tồn tại của con người trong một trạng thái nhất định. Tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng, cảnh không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh chỉ là phương tiện còn miêu tả tâm trạng là mục đích chính. Tả cảnh ngụ tình là một thủ pháp nghệ thuật của tác giả xưa nay.
Tuy nhiên, trong một bài thơ, đoạn thơ, không phải đoạn tả cảnh nào cũng ngụ tình, cũng có những đoạn thuần túy tả cảnh. 10 Ngoài mục đích miêu tả tâm trạng, các tác giả còn bộc lộ tư tưởng, cảm xúc và suy nghĩ của mình về các vấn đề xã hội. Đây là biện pháp thường thấy của những tác phẩm thơ ca thời trung đại. Bút pháp tả cảnh ngụ tình Bút pháp tả cảnh ngụ tình là cách dùng chữ, cách hành văn, cách bố cục, cách sử dụng phương tiện biểu hiện là cảnh vật thiên nhiên để tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật phản ánh tâm trạng nhân vật hoặc tâm trạng tác giả.
Đồng thời còn bộc lộ cảm xúc của các tác giả về các vấn đề trong xã hội. Qua đó làm nổi bật nội dung tư tưởng cũng như bức thông điệp của tác giả trước cuộc đời. Tác dụng: tình ý trong văn bản hàm súc, sâu sắc, kín đáo mà vẫn chứa sức gợi và tạo liên tưởng cho người đọc. Thể loại ngâm khúc và truyện thơ Nôm 1.
Tìm hiểu khái niệm Khúc ngâm là một thể loại văn học lớn, độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam. Khúc ngâm biểu hiện sâu sắc tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam. Đặc biệt, khúc ngâm diễn tả từng nếp gấp, chiều sâu trong tâm trạng con người, nhất là khi con người phải trải qua những biến cố dữ dội của cuộc đời, phải đối mặt với những đau thương, mất mát của số phận. Ngay từ khi mới xuất hiện, ngâm khúc đã được quan tâm đánh giá và tìm hiểu.
Kể từ đó đến nay, các nhà nghiên cứu văn học vẫn không ngừng tìm hiểu ở những cấp độ khác nhau, đã đem lại cho người đọc nhiều lý thú và bổ ích về thể loại độc đáo này. Gần đây nhất, trong luận án Tiến sỹ Khúc ngâm song thất lục bát những chặng đường phát triển của nghệ thuật, Đào Thu Thủy đã có cái nhìn khái quát quá trình nghiên cứu khúc ngâm từ khi xuất hiện đến năm 2008. Luận án trình bày: Ngâm khúc ra đời trên cơ sở kết tinh nỗi buồn sâu đậm với thân phận khổ đau của người phụ nữ. Đồng thời công trình cũng đã tái hiện lại diện mạo và chỉ ra đặc điểm của thể loại ngâm khúc trên tiến trình phát triển từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX.
Như vậy, ngâm khúc là “thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình 11 cảm buồn phiền, đau xót triền miên day dứt. Vì thế thể ngâm khúc còn được gọi là khúc, vãn hay thán”[10; tr. Truyện thơ Nôm là thể loại tiêu biểu trong văn học Việt Nam thời kì trung đại. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về thể loại truyện thơ Nôm.
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu định nghĩa của tác giả Đinh Thị Khang trong cuốn Văn học Việt Nam trung đạivề truyện Nôm: “Truyện Nôm là loại hình tự sự bằng thơ dùng văn tự Nôm, có tác phẩm được viết bằng thể thơ Đường luật. Nhưng phổ biến là các tác phẩm được viết bằng thơ lục bát được gọi là truyện Nôm… Truyện Nôm là loại hình tác phẩm tự sự, phản ánh cuộc sống xã hội thông qua sự trình bày, miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh, tính cách nhân vật bằng một cốt truyện với hệ thống biến cố sự kiện”. Có thể nói, đặc điểm nổi bật của thể loại truyện thơ Nôm “ là có cốt truyện, là tính tự sự và tính có vần” [30; tr. Chủ đề của ngâm khúc và truyện Nôm lấy số phận người phụ nữ là cảm hứng sáng tác chính.
Qua đó, các tác giả cảm thông với khát vọng yêu đương tự do, nhu cầu giải phóng tình cảm, giải phóng cá nhân, đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc.Một trong các phương tiện nghệ thuật thể hiện nội dung, tư tưởng của ngâm khúc và truyện Nôm chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình. Với đặc trưng riêng, bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc biệt thành công trong việc thể hiện nỗi sầu muộn, triền miên, thống thiết và ý thức, khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ. Thông qua đó, các tác giả đặt ra những vấn đề mang tính xã hội rộng lớn. Vì vậy, việc tìm hiểu bút pháp tả cảnh ngụ tình trong trong các khúc ngâm và truyện thơ là vấn đề cần thiết, giúp ta có điều kiện hiểu thêm về nội dung tư tưởng cũng như đặc trưng của hai thể loại tiêu biểu và độc đáo này.
Cơ sở hình thành Từ khi chế độ phong kiến Việt Nam hình thành cho đến thế kỉ XV là khoảng thời gian nhà nước phong kiến phát triển hưng thịnh. Nhưng từ thế kỉ XVI – XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng, khởi nghĩa nông dân nổ ra liên miên, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Chưa bao giờ giai cấp phong kiến Việt Nam lại bộc lộ bản chất tàn bạo, phản động sâu sắc và toàn diện như ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Tình hình chính trị nhiều biến động đã kéo theo sự phá sản của ý thức hệ phong kiến.
Xã hội đương thời xuất hiện một luồng tư 12 tưởng mới, đó là tư tưởng nhân đạo, tinh thần dân chủ, ý thức cá nhân phát triển mạnh mẽ chi phối tinh thần thời đại. Con người bắt đầu có ý thức về bản thân và có những khát vọng chính đáng: tình yêu đôi lứa, quyền mưu cầu hạnh phúc, thoát khỏi những ràng buộc về tinh thần. Bên cạnh sự phát triển tư tưởng mới của thời đại trong văn học là sự thay đổi về quan niệm thẩm mĩ. Trước thế kỉ XVI, hình tượng trung tâm của văn học là người anh hùng cứu nước, người quân tử và liệt nữ.
Đến thế kỉ XVII- XVIII đã xuất hiện hình tượng người phụ nữ với tâm trạng buồn thương, sầu nhớ và chịu nhiều thiệt thòi, song song với hình tượng các nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử. Sang đến thế kỉ XVIII, tư tưởng nhân văn trong văn học được biểu hiện sâu sắc qua các tác phẩm tiêu biểu như Chinh phụ ngâm khúc(bản diễn Nôm), Đoạn trường tân thanh(Nguyễn Du). Đáp ứng yêu cầu của thời đại, văn học thế kỉ XVIII đã lựa chọn những hình thức thể nghiệm mới thể hiện tiếng nói của thời đại, trong đó có truyện Nôm và khúc ngâm. Tiểu loại của truyện Nôm là truyện Nôm tài tử giai nhân xoay quanh cảm hứng ngợi ca tình yêu tự do giữa tài tử và giai nhân.