Phần mở đầu, Danh mục các từ viết tắt, Mục lục, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 03 chương như sau: 6 z - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam. - Chƣơng 3: Định hướng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp ở Việt Nam. 7 z Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận về bồi thƣờng thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng của doanh nghiệp 1. Lý luận về thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường 1. Lý luận về thiệt hại theo pháp luật dân sự Trong pháp luật dân sự, thiệt hại được phân loại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần. a) Thiệt hại về vật chất, bao gồm thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân: được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm. và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin. vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.
Như vậy, theo pháp luật dân sự, thiệt hại có thể được hiểu là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. Do đó, thiệt hại trong lĩnh vực này được xác định bao gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín và thiệt hại về tinh thần [17]. Lý luận về thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường theo pháp luật về bảo vệ môi trường Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thiệt hại được hiểu là những tổn thất do ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường gây ra. Trên thế giới, hiện có hai quan niệm khác nhau về thiệt hại do ô nhiễm môi trường [7, tr95]: Một là, thiệt hại do ô nhiễm môi trường chỉ bao gồm thiệt hại đối với môi trường tự nhiên và hệ sinh thái như hệ động vật, thực vật, đất, nước, không khí… mà không bao gồm thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người.
Theo cách hiểu này, thiệt hại do ô nhiễm môi trường chỉ được xác định là các thiệt hại trực tiếp lên môi trường tự nhiên và hệ sinh thái do ô nhiễm môi trường gây nên. Hai là, thiệt hại về môi trường không chỉ bao gồm các thiệt hại đến chất lượng môi trường và hê ̣ sinh thái mà còn cả thiệt hại về sức khỏe , tài sản của cá nhân hoă ̣c tổ chức do ô nhiễm môi trường g ây ra. Theo cách tiếp cận này, thiệt hại do ô nhiễm môi trường không chỉ là các thiệt hại trực tiếp lên môi trường tự nhiên, hệ sinh thái do hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra mà còn được hiểu rộng ra là hệ quả của các thiệt hại lên môi trường tự nhiên và ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người. Tại Việt Nam, thì thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được xác định theo quan niệm thứ hai.
Theo đó, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm 02 loại sau: Thứ nhất, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. Đó là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, trong đó chức năng, tính hữu ích của môi trường được thể hiện qua các phương diện chính như sau: (i) Môi trường là không gian sinh tồn của con người; (ii) Môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học (kể cả vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người); (iii) Môi trường là nơi chứa đựng và tiêu hủy chất thải do con người thải ra trong các hoạt động của mình [9]. Như vậy, có thể 9 z hiểu sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường xảy ra khi: Một là, chất lượng của các yếu tố môi trường sau khi bị tác động thấp hơn so với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường; Hai là, lượng tài nguyên thiên nhiên bị khai thác, sử dụng lớn hơn lượng được khôi phục (đối với tài nguyên tái tạo) và/hoặc lớn hơn lượng thay thế (đối với tài nguyên không tái tạo được); Ba là, lượng chất thải thải vào môi trường lớn hơn khả năng tự phân hủy, tự làm sạch của chúng. Thứ hai, thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể hiện qua các chi phí để cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị mất của người bị hại và các khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe có nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Thiệt hại về tài sản được thể hiện qua những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, những khoản chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn chặn và phục hồi tài sản bị thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên. Thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được thể hiện qua sự tổn hại về lợi ích vật chất, sự giảm sút về thu nhập chính đáng mà nguyên nhân là do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được xem là thiệt hại gián tiếp (còn gọi là thiệt hại phái sinh hay thiệt hại thứ sinh) - thiệt hại chỉ xảy ra khi đã có loại thiệt hại thứ nhất.
Tuy nhiên, cần lưu ý là giữa thiệt hại đối với môi trường tự nhiên và thiệt hại đối với tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân không phải luôn luôn và hoàn toàn tách biệt. Trong một số trường hợp thiệt hại về môi trường tự nhiên tại một khu vực nhất định cũng đồng thời là thiệt hại về tài sản, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tại khu vực đó. Ví dụ, sự suy giảm nguồn lợi thủy sinh tại một vùng biển bị ô nhiễm cũng đồng thời là sự giảm sút về thu nhập của ngư dân ở khu vực đó. Điều này thiết nghĩ cần được lưu ý để tránh sự trùng lặp khi xác định các loại thiệt hại cụ thể do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên.
10 z Như vậy, thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường bao gồm 02 loại thiệt hại: (i) Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Loại thiệt hại này thông thường gắn với chủ thể bị thiệt hại là Nhà nước, người đại diện cho lợi ích chung của cộng đồng và (ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Chủ thể của loại thiệt hại này là các tổ chức, cá nhân cụ thể bị thiệt hại. Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường 1.
Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường Theo quy định của BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 307 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và Chương XXI về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng. Tuy nhiên BLDS 2005 chỉ quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại v.v mà không không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý, chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra.
Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại [14]. Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường 11 z thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ xác định cơ sở giải quyết bồi thường theo hợp đồng và ngoài hợp đồng sẽ khác nhau [14].
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được hiểu là loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng. Theo đó, người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận, hợp đồng giữa các bên gây ra thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất do mình gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng dựa trên cơ sở một hợp đồng hoặc một thỏa thuận đã tồn tại giữa các bên.