Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM 1. Lý luận về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất 1. Cơ sở lý luận của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Thứ nhất, mỗi công dân đều có quyền và nghĩa vụ giống nhau, chúng ta được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm và được pháp luật tôn trọng quyền của cá nhân trong đó có quyền sở hữu tư nhân về tài sản. Quyền này được nhắc tới ngay từ khi ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Viêt Nam (Hiến pháp năm 1946) "Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm" (Điều 12, Hiến pháp 1946), "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp.
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân" (Điều 58, Hiến pháp 1992). Hiến pháp 2013 kế thừa những quy định trên, ghi nhận rằng: 1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; 2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ; 3.
Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường [47, Điều 32]. Và nó còn thể hiện rõ hơn tại Điều 54 Hiến pháp 2013: 2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật.
Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ; 3. Nhà nước thu hồi đất (THĐ) do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật; 4. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.
Như vậy, Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản hợp pháp; 8 trong đó, có QSDĐ của mọi cá nhân và tổ chức theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì QSDĐ và tài sản trên đất của người sử dụng đất phải được bồi thường theo giá thị trường; Thứ hai, chức năng cơ bản của Nhà nước trong xã hội hiện đại là kiến tạo, đồng hành và bảo vệ lợi ích không chỉ của xã hội mà còn của doanh nghiệp, tổ chức, người dân. Để đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp và cộng đồng trong việc tiếp cận đất đai sử dụng vào mục đích công cộng hoặc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia. trong điều kiện đất đai được giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài thì Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất.
Tuy nhiên, với chức năng là tổ chức được lập ra thay mặt xã hội giải quyết hài hòa những lợi ích của các giai tầng trong xã hội thì Nhà nước phải bồi thường (BT) những thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất do việc thu hồi đất gây ra. Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thu hồi đất (THĐ) là hành vi làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. Để đảm bảo sự bình đẳng trong xã hội, từng bước xây dựng một xã hội dân sự dân chủ, văn minh và công bằng, một xã hội mà ở đó quyền lợi hợp pháp của mọi thành viên trong xã hội phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Chính vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ; Thứ tư, Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh", đứng trước vô vàn thách thức do quá trình hội nhập quốc tế đem lại, để có thể tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, chúng ta phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo của mỗi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Để thực hiện được mục tiêu trên thì việc tôn trọng và bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người dân cần được Nhà nước ta quan tâm hàng đầu. Có lẽ đây cũng là một trong những câu trả lời cho câu hỏi: “Vì sao chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ra đời?”; Thứ năm, trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc luôn song hành chế độ quốc gia công thổ (đất đai thuộc về của chung của quốc gia). Chế độ này hóa 9 thân trong mô hình đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước chú trọng đề cao và bảo vệ quyền tài sản của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong lĩnh vực đất đai nhằm gắn bó chặt chẽ người lao động với đất đai cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Nhìn lại thành tựu hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có thể nhận thấy rằng những thành tựu này là kết quả của quá trình đổi mới tư duy mà hạt nhân cơ bản là đổi mới tư duy về quyền sở hữu tài sản. Để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động, tạo động lực phát triển mới cho sản xuất nông nghiệp, Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn và thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp; xác định đây là khâu đột phá cho toàn bộ quá trình cải cách kinh tế với việc từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai thông qua giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người sử dụng đất. Như vậy, "kể từ đây quyền sử dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất" hay nói cách khác, "quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện; còn quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất" [58, tr. Chính nhờ tìm ra cách thức giao QSDĐ cho người lao động trên cơ sở vẫn giữ nguyên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì sự ổn định về chính trị - xã hội tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế mà Việt Nam và Trung Quốc "gặp nhau" ở điểm chung này.
Hai nước đã thực hiện thành công cuộc cải cách kinh tế mà không gặp phải thất bại như Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Đánh giá về vấn đề này, PGS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng: "Sáng tạo ra khái niệm "quyền sử dụng đất" cả người Việt Nam và người Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức" [43, tr. Cùng chung quan điểm này, GS.
Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận xét: "Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ,. Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước" [70]. Như vậy, bằng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của người sử dụng đất thì dường như họ là người "sở hữu" một loại quyền về tài sản; đó là "quyền sử dụng đất". Bởi lẽ, người sử dụng đất được pháp luật cho phép chuyển 10 QSDĐ; bao gồm các quyền năng: chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế QSDĐ; quyền thế chấp và góp vốn bằng QSDĐ.
Như vậy, một khi pháp luật đã thừa nhận QSDĐ là một loại quyền về tài sản của người sử dụng đất, thì khi Nhà nước thu hồi đất (có nghĩa là người sử dụng đất bị mất QSDĐ do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra), Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng đất; Thứ sáu, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất dựa trên sự tiếp cận và tôn trọng lý thuyết về vật quyền được pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới thừa nhận và quy định.Lý giải về vật quyền, PGS.TS Dương Đình Huệ cho rằng: “Vật quyền thực chất là quyền trên vật. Một người có tài sản thì có quyền trên vật hay cách khác gọi là quyền sở hữu. Quyền trên tài sản của mình gọi là quyền sở hữu. Quyền trên tài sản của người khác thì gọi là các loại vật quyền khác.
“Ví dụ, tôi mua một miếng đất thì tôi có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt miếng đất đó (gọi là vật quyền). Nhưng miếng đất của tôi lại bị bao bọc bởi một miếng đất của hàng xóm, thì tôi có quyền yêu cầu hàng xóm phải cho con đường để tôi đi ra. Tức là, tôi có quyền nhất định trên mảnh đất của hàng xóm và hàng xóm tự hạn chế quyền của mình (gọi là vật quyền khác)”. Như vậy, vật quyền là một khái niệm được hình thành trực tiếp từ quyền trên vật, là quyền sở hữu trên tài sản của mình.
Quyền trên tài sản của người khác thì gọi là vật quyền hạn chế. Vật quyền cho phép một người được thực hiện quyền chi phối trên vật của mình.