Bồi Dưỡng Năng Lực Sử Dụng Ngôn Ngữ Vật Lý Của Học Sinh Qua Dạy Học Phân Hóa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ vật lí cho học sinh qua dạy học động lực học chất điểm trong chương trình vật lí 10.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

182
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu của đề tài

0.3. Giả thuyết khoa học

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng nghiên cứu

0.6. Phạm vi nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Những đóng góp mới của luận án

0.9. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ và bồi dưỡng ngôn ngữ trong bối cảnh dạy học khoa học và dạy học vật lí

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về về ngôn ngữ và bồi dưỡng ngôn ngữ trong bối cảnh dạy học khoa học và dạy học vật lí

1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước về ngôn ngữ và bồi dưỡng ngôn ngữ trong bối cảnh dạy học khoa học và dạy học vật lí

1.2. Nghiên cứu về Dạy học phân hóa trong dạy học vật lí

1.2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về Dạy học phân hóa

1.2.2. Các nghiên cứu trong nước về Dạy học phân hóa

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VẬT LÍ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

2.1. Ngôn ngữ và ngôn ngữ khoa học

2.2. Ngôn ngữ và chức năng của ngôn ngữ

2.3. Ngôn ngữ khoa học. Ngôn ngữ vật lí

2.4. Các thành phần của Ngôn ngữ vật lí

2.5. Quan hệ giữa Ngôn ngữ vật lí và Ngôn ngữ toán học

2.6. Năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.7. Các biểu hiện cơ bản của năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.8. Chỉ số hành vi của năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.9. Xác định công cụ đánh giá năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.10. Nguyên tắc đánh giá năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.11. Các công cụ đánh giá năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.12. Các nguyên tắc bồi dưỡng năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.12.1. Nguyên tắc 1: Bồi dưỡng ngôn ngữ vật lí gắn liền bối cảnh học tập vật lí

2.12.2. Nguyên tắc 2: Tổ chức các hoạt động giao tiếp có sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.12.3. Nguyên tắc 3: Chú ý tới khả năng ngôn ngữ hiện có của học sinh và có những biện pháp đánh giá thường xuyên sự phát triển ngôn ngữ của học sinh

2.12.4. Nguyên tắc 4: Liên kết giữa hai hình thức sử dụng Ngôn ngữ vật lí nói và viết

2.13. Các biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.13.1. Sử dụng kết hợp các hình thức vấn đáp, thảo luận để tạo điều kiện cho hoạt động giao tiếp sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.13.2. Sử dụng các trải nghiệm, tình huống vật lí gắn với đời sống hàng ngày của học sinh

2.13.3. Sử dụng các hình thức hướng dẫn và luyện tập khác nhau phù hợp với học sinh

2.13.4. Sử dụng phối hợp nhiều hình thức đánh giá nhằm chỉnh sửa, uốn nắn những sai lầm của học sinh trong sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.14. Các đặc điểm của Dạy học phân hóa

2.15. Sử dụng Dạy học phân hóa để bồi dưỡng năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.16. Lập kế hoạch tổ chức Dạy học phân hóa bồi dưỡng năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.17. Cơ sở thực tiễn

2.17.1. Thực trạng về dạy học bồi dưỡng năng lực sử dụng Ngôn ngữ vật lí

2.17.2. Hiểu biết về tổ chức Dạy học phân hóa với môn vật lí ở trường THPT

2.17.3. Hứng thú và mong muốn của học sinh khi học môn vật lí

2.18. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ VẬT LÍ THÔNG QUA DẠY HỌC PHÂN HÓA MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM, CÂN BẰNG CỦA VẬT RẮN – VẬT LÍ 10 THPT

3.1. Nội dung một số kiến thức về Động lực học chất điểm, Cân bằng của vật rắn – vật lí 10 THPT được lựa chọn trong đề tài

3.2. Lập kế hoạch dạy học một số nội dung về Động lực học chất điểm và Cân bằng của vật rắn – vật lí 10 THPT

3.3. Bài “Lực đàn hồi”

3.4. Bài “Lực ma sát”

3.5. Bài “Lực hướng tâm”

3.6. Giao nhiệm vụ về nhà tổng kết các kiến thức về Động lực học chất điểm

3.7. Bài “Vật rắn cân bằng dưới tác dụng của hai lực và ba lực không song song”

3.8. Bài “Các dạng cân bằng của vật rắn”

3.9. Giao nhiệm vụ về nhà tổng kết các kiến thức về Cân bằng của vật rắn

3.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

4.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

4.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

4.4. Tổ chức dạy học thực nghiệm sư phạm

4.5. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm cụ thể. Thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.6. Diễn biến thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.7. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1

4.8. Những hiệu chỉnh trước thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.9. Thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.10. Diễn biến thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.11. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2

4.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN CHUNG

0.1. Đánh giá kết quả đạt được của luận án

0.2. Những hạn chế và hướng phát triển của luận án

0.3. Một số khuyến nghị

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bồi Dưỡng Năng Lực Ngôn Ngữ Vật Lý

Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể sau 2018 nhấn mạnh vai trò của giáo dục ngôn ngữ trong việc bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Ngôn ngữ, với hai chức năng chính là phương tiện giao tiếp và công cụ tư duy, đóng vai trò then chốt trong mọi môn học. Trong Vật lý, sự hình thành và phát triển của ngành khoa học này đã tạo ra một hệ thống ngôn ngữ riêng, gọi là ngôn ngữ vật lý (NNVL), với các ký hiệu và hình thức hóa trừu tượng. NNVL là công cụ quan trọng để phát triển nhận thức Vật lý, là phương tiện giao tiếp và tư duy hiệu quả nhất trong quá trình học tập. Năng lực sử dụng NNVL là một phần không thể thiếu của năng lực Vật lý của học sinh. Chương trình Vật lý năm 2018 yêu cầu học sinh phải nhận biết, trình bày, so sánh, phân tích, giải thích và phê phán các khái niệm, hiện tượng, quy luật Vật lý, tất cả đều đòi hỏi kỹ năng sử dụng NNVL thành thạo. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc nghiên cứu các nguyên tắc và biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng NNVL trở nên cấp thiết, góp phần hình thành nhận thức Vật lý, năng lực Vật lý và phẩm chất của học sinh.

1.1. Vai Trò Của Ngôn Ngữ Vật Lý Trong Dạy Học Vật Lý

Ngôn ngữ vật lý không chỉ là công cụ để truyền đạt kiến thức mà còn là phương tiện để học sinh tư duy, khám phá và giải quyết các vấn đề vật lý. Việc sử dụng ngôn ngữ vật lý chính xác và hiệu quả giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các khái niệm và quy luật vật lý. Theo Sutton (1992), ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học, đặc biệt là việc sử dụng phép ẩn dụ để thể hiện các ý tưởng khoa học. Do đó, bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý là một nhiệm vụ quan trọng trong dạy học vật lý.

1.2. Các Nghiên Cứu Về Bồi Dưỡng Ngôn Ngữ Khoa Học

Các nghiên cứu về bồi dưỡng ngôn ngữ khoa học cho thấy có hai trường phái chính: một là học sinh tự học và phát triển ngôn ngữ thông qua trải nghiệm, hai là học sinh cần được rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ. Chomsky (1995) cho rằng trẻ em phát triển khả năng ngôn ngữ thông qua khả năng nhận thức bẩm sinh. Tuy nhiên, với ngôn ngữ thứ hai, học sinh cần được rèn luyện để sử dụng thành thạo cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Việc bồi dưỡng ngôn ngữ cần kết hợp cả hai trường phái để phát triển toàn diện khả năng ngôn ngữ của học sinh.

II. Thách Thức Trong Dạy Ngôn Ngữ Vật Lý Cho Học Sinh

Mỗi học sinh là một cá nhân riêng biệt với sở thích, năng lực và hoàn cảnh học tập khác nhau. Điều này đặt ra thách thức cho giáo viên trong việc đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của học sinh. Nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu về dạy học phân hóa và khẳng định rằng việc vận dụng phân hóa trong dạy học là cần thiết để đáp ứng mục tiêu giáo dục. Nhà trường và giáo viên cần trang bị cho học sinh những kiến thức nền tảng, đồng thời giúp mỗi học sinh phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Chương trình Giáo dục phổ thông mới cần giải quyết tốt vấn đề dạy học phân hóa để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

2.1. Dạy Học Phân Hóa Giải Pháp Cho Sự Đa Dạng Học Sinh

Dạy học phân hóa là phương pháp dạy học mà trong đó các hoạt động dạy học được tổ chức với nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau. Có hai cách phân hóa: phân hóa ngoài và phân hóa trong. Phân hóa trong yêu cầu giáo viên phải điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức dạy học để đáp ứng nhu cầu của từng học sinh. Dạy học phân hóa giúp học sinh phát huy tối đa tiềm năng của mình và đạt được kết quả học tập tốt nhất.

2.2. Rào Cản Ngôn Ngữ Với Học Sinh Vùng Núi

Đối với học sinh phổ thông miền núi, khả năng diễn đạt bằng tiếng Việt còn hạn chế, gây ra rào cản trong việc sử dụng ngôn ngữ khoa học, đặc biệt là ngôn ngữ vật lý. Giáo viên cần chú ý vận dụng các nguyên tắc và biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý, đồng thời thực hiện các tiếp cận có tính phân hóa với các đối tượng học sinh khác nhau và các chiến lược/kỹ thuật dạy học phù hợp. Điều này góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Vật lý của học sinh miền núi.

III. Phương Pháp Dạy Học Phân Hóa Bồi Dưỡng Năng Lực NNVL

Để giải quyết các thách thức trên, việc kết hợp dạy học phân hóa với các biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý là một giải pháp hiệu quả. Giáo viên cần xác định rõ các nguyên tắc và biện pháp bồi dưỡng NNVL, đồng thời vận dụng lý luận về dạy học phân hóa để tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Điều này giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ khoa học Vật lý một cách toàn diện và hiệu quả.

3.1. Nguyên Tắc Bồi Dưỡng Năng Lực Sử Dụng Ngôn Ngữ Vật Lý

Việc bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý cần tuân thủ các nguyên tắc sau: (1) Bồi dưỡng ngôn ngữ vật lý gắn liền với bối cảnh học tập vật lý. (2) Tổ chức các hoạt động giao tiếp có sử dụng ngôn ngữ vật lý. (3) Chú ý đến khả năng ngôn ngữ hiện có của học sinh và có những biện pháp đánh giá thường xuyên sự phát triển ngôn ngữ của học sinh. (4) Liên kết giữa hai hình thức sử dụng ngôn ngữ vật lý nói và viết.

3.2. Biện Pháp Bồi Dưỡng Năng Lực Sử Dụng Ngôn Ngữ Vật Lý

Các biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý bao gồm: (1) Sử dụng kết hợp các hình thức vấn đáp, thảo luận để tạo điều kiện cho hoạt động giao tiếp sử dụng ngôn ngữ vật lý. (2) Sử dụng các trải nghiệm, tình huống vật lý gắn với đời sống hàng ngày của học sinh. (3) Sử dụng các hình thức hướng dẫn và luyện tập khác nhau phù hợp với học sinh. (4) Sử dụng phối hợp nhiều hình thức đánh giá nhằm chỉnh sửa, uốn nắn những sai lầm của học sinh trong sử dụng ngôn ngữ vật lý.

IV. Ứng Dụng Dạy Học Phân Hóa Trong Động Lực Học Chất Điểm

Luận án tập trung vào việc thiết kế tiến trình dạy học phân hóa một số nội dung kiến thức về Động lực học chất điểm, Cân bằng của vật rắn - Vật lý 10 nhằm bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý của học sinh. Các hoạt động dạy học được thiết kế đa dạng, phù hợp với trình độ và khả năng của từng nhóm học sinh, đồng thời tạo cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm và vận dụng kiến thức vào thực tế.

4.1. Thiết Kế Bài Giảng Phân Hóa Về Lực Đàn Hồi

Bài giảng về lực đàn hồi được thiết kế với các hoạt động khác nhau, phù hợp với các nhóm học sinh có trình độ khác nhau. Ví dụ, nhóm học sinh khá giỏi có thể được yêu cầu giải các bài tập nâng cao về lực đàn hồi, trong khi nhóm học sinh trung bình có thể được yêu cầu thực hiện các thí nghiệm đơn giản để minh họa cho khái niệm lực đàn hồi.

4.2. Xây Dựng Hoạt Động Nhóm Về Lực Ma Sát

Các hoạt động nhóm về lực ma sát được thiết kế để khuyến khích học sinh hợp tác, trao đổi và chia sẻ kiến thức. Ví dụ, học sinh có thể được yêu cầu thực hiện các thí nghiệm để đo hệ số ma sát giữa các vật liệu khác nhau, sau đó trình bày kết quả và thảo luận về ứng dụng của lực ma sát trong đời sống.

V. Thực Nghiệm Sư Phạm Đánh Giá Hiệu Quả Phương Pháp

Để kiểm nghiệm giả thuyết khoa học và đánh giá tính hiệu quả của các nguyên tắc, biện pháp và kế hoạch dạy học bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý, luận án đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT. Kết quả thực nghiệm cho thấy việc vận dụng dạy học phân hóa kết hợp với các biện pháp bồi dưỡng NNVL đã giúp học sinh nâng cao đáng kể năng lực sử dụng ngôn ngữ khoa học Vật lý.

5.1. Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp đối chứng, so sánh kết quả học tập của nhóm học sinh được dạy theo phương pháp dạy học phân hóa kết hợp với các biện pháp bồi dưỡng NNVL với nhóm học sinh được dạy theo phương pháp truyền thống. Các công cụ đánh giá bao gồm bài kiểm tra, phiếu học tập và quan sát hoạt động của học sinh trong lớp.

5.2. Kết Quả Và Đánh Giá Thực Nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy nhóm học sinh được dạy theo phương pháp dạy học phân hóa kết hợp với các biện pháp bồi dưỡng NNVL có kết quả học tập cao hơn đáng kể so với nhóm học sinh được dạy theo phương pháp truyền thống. Điều này chứng tỏ tính hiệu quả của phương pháp dạy học phân hóa trong việc bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ khoa học Vật lý cho học sinh.

VI. Kết Luận Về Bồi Dưỡng Năng Lực Ngôn Ngữ Vật Lý

Luận án đã xác định được các chỉ số hành vi và mức độ của năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý của học sinh THPT, đề xuất các nguyên tắc và biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý, và soạn thảo được tiến trình tổ chức hoạt động dạy học phân hóa bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý với một số nội dung kiến thức về Động lực học chất điểm, Cân bằng của vật rắn - Vật lý 10 THPT. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lý, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

6.1. Đóng Góp Mới Của Luận Án

Luận án đã đóng góp mới về mặt lý luận bằng việc xác định các chỉ số hành vi và mức độ của năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý của học sinh THPT, đề xuất các nguyên tắc và biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý. Về mặt thực tiễn, luận án đã soạn thảo được tiến trình tổ chức hoạt động dạy học phân hóa bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý với một số nội dung kiến thức cụ thể.

6.2. Hướng Phát Triển Nghiên Cứu

Nghiên cứu có thể được tiếp tục phát triển bằng cách mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các nội dung kiến thức khác của môn Vật lý, cũng như các cấp học khác. Ngoài ra, có thể nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lý của học sinh, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả hơn.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ bồi dưỡng năng lực sử dụng ngôn ngữ vật lí của học sinh thông qua dạy học phân hoá một số nội dung về động lực học chất điểm cân bằng của vật rắn vật lí 10 thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về ngôn ngữ và bồi dưỡng ngôn ngữ trong bối cảnh dạy học khoa học và dạy học vật lí 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về về ngôn ngữ và bồi dưỡng ngôn ngữ trong bối cảnh dạy học khoa học và dạy học vật lí Hai chức năng cơ bản của NN là công cụ của giao tiếp và công cụ của tư duy, hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau [19]. Vì vậy, từ lâu các nhà KH đã nhận ra vai trò quan trọng của NN trong mô tả và thực hành KH.

NN (nói và viết) là công cụ để nhà KH diễn đạt và truyền đạt ý tưởng, tuyên bố rằng họ khám phá ra kiến thức mới. Ngược lại, khi các ngành KH hình thành và phát triển, một cách tự nhiên xuất hiện “tiếng nói riêng” chính là NNKH (scientific language). Mối quan hệ giữa kiến thức KH và NN đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu. Sutton (1992) đã đặt câu hỏi: “Nhà KH sử dụng NN như thế nào trong phát triển những ý tưởng KH?” (tr.

Nghiên cứu cho thấy tính quan trọng của NN trong tư duy KH và đặc biệt là việc sử dụng phép ẩn dụ để thể hiện các ý tưởng KH. Tiếp tục bàn về tác dụng của NN trong KH, Sutton (1996) đã nêu trải nghiệm của người học về NN như một hệ thống diễn giải, được sử dụng tích cực để tạo ra những hiểu biết mới và NN như một hệ thống ghi nhãn để truyền tải các thông tin đã được thiết lập [100]. Đây chính là hai chức năng của NN, vừa giúp nhà KH mô tả và thực hành KH, vừa là giúp truyền tải thông tin KH. Tuy nhiên, NN là một phương tiện để mô tả thế giới khách quan và độc lập với suy nghĩ của con người.

NN được sử dụng như một công cụ trong việc đưa ra những ý tưởng mới, giải thích hiện tượng đang xảy ra… Chúng ta cũng cần hiểu rằng có sự thay đổi của NN trong các bài viết của các nhà KH, NN trong giai đoạn đầu khi nhà nghiên cứu đưa ra những tuyên bố ý tưởng đầu tiên, khác với NN khi kết thúc (kết luận về ý tưởng) ở một vài năm hoặc thập kỷ sau đó. Để bồi dưỡng NN cho người học, có hai trường phái cơ bản: (1) HS có khả năng tự học và phát triển NN khi chúng được đưa vào môi trường NN để thực hiện các trải nghiệm. Chomsky (1995) đề xuất rằng mọi trẻ em đều phát triển khả năng NN của mình thông qua khả năng nhận thức bẩm sinh và tự nhiên trong tâm trí sẽ cho phép n 6 chúng học NN. Khả năng bẩm sinh này đã gợi ý rằng con người về bản chất có khả năng tự học NN [57]; Tuy nhiên, với các NN thứ hai không phải NN mẹ đẻ thì HS không thể có được môi trường trải nghiệm để việc học NN có thể phát triển một cách tự nhiên.

(2) HS cần phải được rèn luyện để có thể học và sử dụng các kĩ năng NN thành thạo hơn. Học NN theo trường phái thứ hai sẽ giúp HS học được kĩ thuật sử dụng NN và có thể đạt điểm cao trong các bài kiểm tra nhưng việc sử dụng NN của HS khó có thể phát triển một cách toàn diện ở cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết [73, 115]. Việc bồi dưỡng NN cho người học cần có sự kết hợp cả hai trường phái và không nên có ranh giới cụ thể bởi chúng sẽ luôn hỗ trợ và bổ sung cho nhau vì mục đích giúp người học sử dụng NN thành thạo và toàn diện hơn. Ngày nay, việc bồi dưỡng NN của người học sẽ luôn được tiến hành theo cả hai trường phái.

Chúng tôi nhận thấy, xét trong bối cảnh DH KH và DHVL với HS thì cần chủ động tổ chức dạy học để rèn luyện NL sử dụng NNKH nói chung và NNVL nói riêng của HS. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và GV đều nhận thức được vai trò của NN trong dạy và học KH. Ngược lại, NN cũng được bồi dưỡng trong quá trình DH các môn KH, dù sự tham gia NN có thể là thiếu sót (đặc biệt với những hình thức NN không lời qua sơ đồ, hình vẽ…) nhưng vẫn luôn hỗ trợ bồi dưỡng và phát triển NN [64], [54] [49],… NN là phương tiện để biểu đạt các ý tưởng trong lớp học KH. Vollmer (2010) đã mô tả các hoạt động liên quan đến NN trong lớp học KH.

Trong mỗi hoạt động, tác giả mô tả các tình huống/nhiệm vụ học tập có sử dụng các kĩ năng NN được mã hóa (dựa theo các mã hóa về hoạt động giao tiếp trong CEFR): R = reception (sự tiếp nhận); P = production (sự sản sinh/tạo); I = interaction (sự tương tác); O = oral (lời nói); W = written (câu viết) [111]. Ví dụ, khi GV trình bày về thông tin chung, giải thích và nhận xét, phân tích, giải thích các thuật ngữ và khái niệm, …, trong đó có thể sử dụng kèm bản đồ, sơ đồ, bảng dữ liệu,… (là các phương tiện trực quan) - quá trình này tạo NN nói - OP (oral production) và tạo NN viết - WP (written production); tương tác giữa n 7 GV và HS về các nội dung được trình bày là OI (oral interaction); HS thực hiện đọc và nghiên cứu SGK/tài liệu là WR (written reception);… Những mô tả này đã trợ giúp nhà nghiên cứu giáo dục và GV mô tả được các hoạt động cụ thể có liên quan đến NN đã diễn ra trong lớp học, từ đó có những vận dụng thử nghiệm phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và NN mẹ đẻ của một quốc gia cụ thể. Dễ nhận thấy rằng các mô tả của tác giả Vollmer (2010) đều hướng tới quá trình sản xuất (tạo) thành sản phẩm của NN với các kĩ năng nói và viết, còn với quá trình tiếp nhận kiến thức và NN (có sử dụng kĩ năng nghe, đọc) không được đề cập rõ ràng. Tuy nhiên, theo chúng thì các mô tả như vậy là phù hợp bởi để ĐG được NL sử dụng NN thì vẫn phải thông qua sản phẩm NN được tạo thành.

Halliday (2004) xây dựng Khung NN chức năng hệ thống (the Systemic Functional Linguistics - SFL) như hình 1. Trong đó ông sử dụng thuật ngữ (the term lexicogrammatical) với nghĩ “chức năng từ vựng”, từ vựng đang xét đã biểu thị quá trình (process); phương tiện (medium); tác nhân (agent)… trong câu/mệnh đề. Mô hình của Halliday đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng Hình 1. Mệnh đề với hạt nhân trong phân tích sản phẩm NN (nói, viết) của gồm Quá trình (Process) và Phương GV, HS trong dạy và học KH.

Kết quả cho thấy HS cũng trải qua quá trình tìm thuật ngữ và sàng lọc ngữ nghĩa giống như các nhà VL trong lịch sử. Từ đó, tác giả kiến nghị GV trong quá trình DHVL cần hướng dẫn hỗ trợ HS “tinh chỉnh” để tránh nhầm lẫn; Seah (2011) sử dụng khung SFL của Halliday [71] để phân tích các bài tập viết KH của các HS lớp 7 đã hoàn thành trong chuỗi bài học với chủ đề Trạng thái vật chất (States of Matter), từ đó rút ra các hàm ý sư phạm dành cho GV trong dạy học: Cần làm nổi các chức năng của n 8 các từ vựng KH và liên hệ logic giữa chúng với nhau, bởi học tập KH liên quan đến không phải việc tiếp nhận “sự kiện” riêng lẻ, mà là một khung các khái niệm KH liên kết với nhau, các khái niệm KH có trong các câu khác nhau cùng liên quan đến một chủ đề kiến thức; GV cần giải thích rõ các yêu cầu, bởi việc HS sử dụng từ vựng KH (với các chức năng khác nhau) phụ thuộc vào cách HS hiểu nhiệm vụ đang phải hoàn thành [96]. Ngoài các từ vựng KH, thì tư duy bậc cao trong sản phẩm NN (nói, viết) còn thể hiện trong cách HS sử dụng các thuật ngữ phi kĩ thuật (non-technical terms), Quílez (2019) đã phân loại các thuật ngữ phi kĩ thuật thành ba nhóm cơ bản [89], cụ thể bao gồm: (i) các cụm từ phi kỹ thuật dùng chung trong các ngành KH, ví dụ: tuyệt đối, tương tự, giả sử, giả thiết, tiếp theo, tương đương, bằng chứng, tức thời, phát sinh, thay đổi, cấu thành, bao hàm, tương phản, nhấn mạnh, tạo ra, liên quan…; (ii) các thuật ngữ đại diện tổng hợp, ví dụ: chắc chắn, chỉ định, tìm hiểu, xây dựng và phân tích, mâu thuẫn, dự đoán, lặp lại, trình bày lại, đề nghị, cảnh báo… (iii) liên kết các thành phần trong câu: liên kết logic (ví dụ: sau đó, do đó, suy ra, ta được, cụ thể là, bao gồm, sau đó, mặc dù, theo đó…), xác định có tính đại diện (ví dụ: được coi là, trái ngược với, là thành viên, là thành phần, được hiểu là, đại diện cho, đặc trưng cho…) và các nhóm từ vựng (ví dụ: trên cơ sở, do kết quả của, có khả năng, là hệ quả của, một trong những kết quả này cho thấy rằng, liên quan đến, thực tế là…). Nghiên cứu của Haliday và Quílez đi sâu vào nghiên cứu chức năng từ vựng của NN sử dụng trong KH, giúp mô tả, truyền tải nội dung KH chính xác và hiệu quả hơn.

Xét trong bối cảnh của DHVL, với các đặc điểm riêng của NNVL, các nghiên cứu này góp phần gợi ý cho chúng tôi trong mô tả các tiêu chí hành vi để ĐG NL sử dụng NNVL của HS. Xuất phát từ lý thuyết về chuyển đổi khái niệm để học các thuật ngữ KH do Chi, Slotta và de Leeuw (1994) đề xuất, trong đó giả định NN (từ/cụm từ) được mọi người sử dụng là mã hóa cho một hoặc nhiều đại diện của một trong ba phạm trù bản thể học khác nhau: a) vật chất, b) quy trình và c) trạng thái [56]. Ví dụ, trong câu “Vật A tác dụng lực F lên vật B…” thì thuật ngữ lực đang được sử dụng như danh từ, nhưng ở một câu khác “Lực do vật A tác dụng lên vật B…” thì lực trong trường hợp này đang được sử dụng nói về n 9 bản thể học “quá trình tương tác mà trong đó vật A tác dụng lên vật B” như một quá trình; (ii) HS khó khăn trong việc phân loại các khái niệm VL thành thể loại (bản thể học) chính xác vì vậy cũng ảnh hưởng đến các quá trình tư duy lập luận của HS; (iii) HS khó khăn trình bày và liên kết các bản thể học với nhau, lí do này rất giống với những khó khăn mà các nhà VL gặp phải khi cố gắng tìm cách thể hiện ý tưởng của họ bằng NN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bồi Dưỡng Năng Lực Sử Dụng Ngôn Ngữ Vật Lý Cho Học Sinh Qua Dạy Học Phân Hóa" tập trung vào việc nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ vật lý cho học sinh thông qua phương pháp dạy học phân hóa. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ chuyên ngành trong việc giúp học sinh hiểu sâu hơn về các khái niệm vật lý, từ đó cải thiện khả năng tư duy và giải quyết vấn đề. Bằng cách áp dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, giáo viên có thể đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của học sinh, tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp dạy học và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận án tiến sĩ vận dụng mô hình blended learning trong dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông", nơi bạn sẽ tìm thấy cách áp dụng mô hình blended learning để phát triển năng lực tự học.

Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong dạy học chương" sẽ cung cấp cho bạn những phương pháp hữu ích để phát triển tư duy cho học sinh trong quá trình học tập.

Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về việc "Skkn vận dụng phương pháp dạy học dự án nhằm phát huy năng lực tự học tự chủ cho học sinh trong dạy học bài kí ai đã đặt tên cho dòng sông của hoàng phủ ngọc tường", một tài liệu thú vị về việc áp dụng phương pháp dạy học dự án để khuyến khích học sinh tự học và phát triển kỹ năng tự chủ.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp dạy học hiện đại và cách thức phát triển năng lực cho học sinh.