Mở đầu bài thơ là lời chào, lời gửi thưa: tiên: lời chào, lời Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác gửi thưa. Lời thơ ngắn gọn, giản dị không hoa mĩ, câu thơ như + Địa danh “miền một lời chào, một lời gửi thưa thành kính. Địa danh Nam” “miền Nam” cũng thật giàu sức gợi. Nó không chỉ xác định vị trí địa lí rất xa xôi mà còn có ý nghĩa lịch sử.
Trong tim Bác, miền Nam luôn là nỗi đau chia cắt, là biểu tượng anh hùng, là thành đồng Tổ quốc… Trong tâm trạng của người con miền Nam “mong Bác nỗi mong cha”. Đó là niềm mong ước không chỉ của riêng nhà thơ mà còn của biết bao người con miền Nam muốn được gặp Bác, muốn được ở bên Bác. Niềm mong ước ấy giống như + Xưng “con” - cây tìm về cội, sông trở về nguồn, như máu chảy về tim. “Bác” Đó là tình cảm chân thành, tha thiết của nhà thơ đối với vị cha già dân tộc.
Nhà thơ xưng “con” - “Bác”,“con” - cách xưng hô thật gần gũi, thân thiết, ấm áp thân thương mà vẫn rất mực thành kính thiêng liêng. Trong sâu thẳm lòng mình Viễn Phương coi Bác là người cha nhân hậu, hiền từ như nhà thơ Tỗ Hữu đã từng bộc bạch: + Nhà thơ sử Bác Hồ là vị cha chung dụng từ “thăm” Là sao bắc đẩu là vầng thái dương. thay cho từ Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”. là gặp gỡ, trò chuyện với người đang còn sống.
Nhan đề dùng từ “viếng” theo đúng nghĩa đen, trang trọng khẳng định sự thật Bác đã qua đời. “Thăm” trong câu thơ ngụ ý nói giảm, nói tránh, giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát, khẳng định Bác vẫn còn sống mãi trong trái tim nhân dân 15 miền Nam, dân tộc Việt Nam. Đồng thời gợi sự thân mật, gần gũi: Con về thăm cha - thăm người thân ruột thịt, thăm chỗ Bác nằm, thăm nơi Bác ở để thỏa lòng khát khao, mong nhớ bấy lâu. Câu thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng gợi cảm, dồn nén biết bao cảm xúc.
Ba câu tiếp: ấn Cái hay của khổ thơ không chỉ ở từ ngữ bình dị mà tượng về hàng tre còn hay ở hình ảnh “hàng tre xanh bát ngát” quanh lăng. Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát. + Từ láy “bát Nhà thơ phải đến xếp hàng từ rất sớm mới thấy ngát” trong lung linh sương sớm bát ngát hàng tre. “bát ngát” - từ láy biểu cảm gợi không gian rộng lớn, xanh mát.
Câu + Thán từ “ôi” thơ tả thực “tre” là hình ảnh thân thuộc mà bao năm in vào tâm hồn người dân Việt Nam. Gặp lại hàng tre nhà thơ liên tưởng Bác đang sống gần gũi thân thuộc với làng quê. Hàng tre ấy như bao bọc, ôm lấy hình bóng của Người - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Sự xuất hiện của hàng tre khiến nhà thơ phải thốt lên: Ôi! Hàng tre xanh xanh Viêt Nam.
Thán từ “ôi” tách ra thành câu đặc biệt vừa biểu lộ sự ngạc nhiên, vừa diễn tả nỗi xúc động. “Hàng tre xanh xanh Việt Nam” là hình ảnh ẩn dụ biểu tượng cho con + Thành ngữ người, dân tộc Việt Nam anh dũng, kiên cường. “Bão táp mưa Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. sa” chỉ khó “Bão táp mưa sa” là thành ngữ, chỉ những khó khăn, gian khổ.
khăn, gian khổ. Còn tư thế “đứng thẳng hàng” là ẩn dụ + Ẩn dụ“đứng chỉ sức mạnh tinh thần, ý chí, bản lĩnh kiên cường, bất thẳng hàng” khuất. Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng không chịu khuất phục tước kẻ thù, không chịu đầu hàng trước thiên tai bão lũ dù trong khó khăn gian khổ, trong bão táp mưa sa vẫn giữ vững một tấm lòng thủy chung son sắt. Tới đây, tình cha con ruột thịt đã được mở rộng, nâng lên hòa quyện trong tình quần chúng - lãnh tụ cao quý và thiêng liêng.
* Đánh giá Như vậy, bằng các biện pháp tu từ ẩn dụ, nói giảm - Đánh giá nghệ nói tránh, các từ ngữ và hình ảnh chọn lọc, khổ thơ đầu đã thuật, nội dung. diễn tả được một cách sâu sắc nỗi niềm xúc động, nghẹn ngào của nhà thơ khi lần đầu tiên được ra lăng viếng Bác. Kết bài Năm tháng cứ đi qua nhưng vẫn vẹn nguyên trong - Đánh giá chung lòng mỗi người niềm xúc động khôn nguôi khi lắng nghe 16 về đoạn thơ những vần thơ trong “Viếng lăng Bác" của Viễn Phương. - Đoạn thơ khơi Mênh mang với nhiều cung bậc cảm xúc, Viễn Phương đã gợi trong em thực sự khơi dậy trong lòng người đọc những tình cảm những tình cảm, đẹp, để nghiêng mình kính cần trước sự vĩ đại, cao đẹp trách nhiệm gì? của Bác mà lớn lên vế tâm hồn, nhân cách: Em học được bài Ta bên Người, Người tỏa sáng bên ta học gì? Ta bỗng lớn ở bên Người một chút (Tố Hữu) Đề 2: Cảm nhận về khổ thơ thứ hai bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.
Dàn ý Bài làm I. Mở bài Cuộc đời thanh cao, giản dị và sự nghiệp cách mạng - Dẫn dắt: cuộc vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là đề tài lớn, là đời Bác là đề tài nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca. Mỗi tác phẩm viết về lớn cho thơ ca. Người không chỉ xuất phát từ tình yêu nghệ thuật, lòng - Giới thiệu bài biết ơn mà còn là kết tinh của tình yêu lãnh tụ, yêu quê thơ “Viếng lăng hương đất nước.
Có nhiều bài thơ hay, xúc động viết và Bác” của tác giả Bác, trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. tác giả Viễn Phương. Bài thơ là tình cảm thiết tha, sự xúc - Giới thiệu nội động nghẹn ngào pha lẫn nỗi xót đau, lòng biết ơn vô hạn dung khổ 2: niềm của nhà thơ và nhân dân Việt Nam dâng lên Bác. Khổ thơ xúc động của nhà thứ hai của bài đã nói lên niềm xúc động của nhà thơ khi thơ khi hòa cùng hòa cùng dòng người vào lăng viếng Bác.
dòng người vào lăng viếng Bác. Thân bài * Khái quát Bài thơ Viếng lăng Bác được viết vào tháng 4 năm - Nêu hoàn cảnh 1976 khi đất nước vừa thống nhất được một năm, lăng ra đời bài thơ. Bác vừa khánh thành, nhà thơ Viễn Phương vinh dự có mặt trong đoàn cán bộ chiến sĩ miền nam ra bắc viếng Bác. Xúc động, nghẹn ngào, hạnh phúc trào dâng ông đã viết bài thơ trong những giây phút lịch sử đó.
* Phân tích Hai câu thơ đầu Nếu như ở khổ thơ đầu nhà thơ bộc lộ cảm xúc khi đứng trước cảnh vật ngoài lăng, ấn tượng sâu sắc về hàng tre trước lăng thì đến khổ hai nhà thơ tiếp tục thể hiện những xúc cảm của mình trước những đoàn người vào 17 lăng viếng Bác và bộc lộ tình cảm thành kính, biết ơn của nhà thơ với Bác. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. + Sử dụng nghệ Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật điệp ngữ, hai hình ảnh thuật điệp ngữ, mặt trời sóng đôi nhau xuất hiện. Mặt trời trên lăng là hai hình ảnh mặt “mặt trời” của thiên nhiên, vũ trụ ấm áp, rực rỡ chiếu trời sóng đôi sáng, mang lại nguồn sống cho muôn vật muôn loài trên nhau xuất hiện.
Còn“mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ để + Ẩn dụ“mặt chỉ Bác Hồ. Thực ra, việc ví Bác với mặt trời không phải trời”: chỉ Bác Hồ là tứ thơ mới, trước Viễn Phương đã có rất nhiều nhà thơ đã ví Bác với mặt trời. Tố Hữu đã từng có ý thơ: Người rực rỡ một mặt trời cách mạng Mà Đế quốc là loại dơi hốt hoảng Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người. + Nhân hóa“mặt Nhưng cái mới mẻ của Viễn Phương là đã kết hợp ẩn trời”: Mặt trời dụ với nghệ thuật nhân hóa.
Mặt trời của tự nhiên vốn đã của tự nhiên phải đẹp, vốn đã rực rỡ chói lóa, ấy vậy mà vẫn phải ngưỡng ngưỡng mộ trước mộ trước vẻ đẹp tài năng và nhân cách của Hồ Chí Minh. vẻ đẹp tài năng Với việc ví Bác với mặt trời, Viễn Phương vừa ca ngợi và nhân cách của được sự vĩ đại của Bác vừa nhấn mạnh được tư tưởng Hồ Chí Minh. ngời sáng của Người, lại vừa thể hiện được lòng thành kính của nhân dân, của nhà thơ đối với Bác Hồ. Hai câu tiếp Cặp câu thơ thứ hai nhà thơ miêu tả: Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Nhịp thơ chậm chậm như bước chân đi lặng lẽ. Đoàn người vào lăng viếng Bác nối nhau thành “dòng” không + Ẩn dụ “tràng dứt. Thông qua nghệ thuật ẩn dụ dòng người bất tận kia hoa” trở thành “tràng hoa” dâng lên vị cha già dân tộc. “Tràng hoa” có thể là hình ảnh thực, có thể là ẩn dụ chỉ tấm lòng, tượng trưng cho muôn triệu cuộc đời nở hoa dưới ánh sáng mặt trời Bác Hồ rực rỡ.
Dù hiểu theo cách + Điệp ngữ nào hình ảnh thơ cũng thật đẹp. “ngày ngày” Điệp ngữ “ngày ngày” được nhắc lại hai lần, vừa có ý nhấn mạnh, vừa có ý so sánh. Giống như “mặt trời đi qua trên lăng”, tình cảm của nhân dân với Bác cũng vĩnh hằng như quy luật vận hành của vũ trụ. Hơn thế nữa, niềm thương nhớ Bác được Viễn Phương diễn tả qua một hình ảnh xúc động “đi trong thương nhớ”.
Thương nhớ từ 18 lòng người, nhuốm phủ lên tất cả để làm thành không gian thương nhớ. Hóa ra niềm tôn kính Bác đâu chỉ của riêng nhà thơ. Niềm tôn kính Bác là của chung dân tộc. Tình cảm ấy không vô hình, cụ thể bao trùm lên trong không gian, thời gian vô tận “ngày ngày”.
+ Hoán dụ:“bảy Đặc biệt, hình ảnh “bảy mươi chín mùa xuân” là mươi chín mùa hình ảnh hoán dụ thật đẹp mang ý nghĩa tượng trưng vì xuân” “mùa xuân” không chỉ gợi tuổi mà còn gợi đến sự bất tử và khẳng định sức cống hiến không mệt mỏi, thanh xuân tươi trẻ mãi của Bác Hồ cho đất nước, nhân dân. “bảy mươi chín mùa xuân”, Bác ra đi khi vừa tròn 79 tuổi - 79 năm -79 mùa xuân Bác đã cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp của dân tộc mà không giành một chút riêng tư về mình. Xin nhớ từ đây nhớ lại ngày Bác Hồ từ giã cõi hôm nay Bảy mươi chín xuân trong sáng ấy Vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay. (Theo chân Bác - Tố Hữu) * Đánh giá Bằng thể thơ tám chữ, ngôn ngữ bình dị, nhịp thơ - Đánh giá nghệ chậm dãi, giọng điệu trang trọng và cảm xúc thiết tha thiết thuật, nội dung.