phần mở đầu của bài thơ. “Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm Than vận nước gặp khi biến đổi Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu Để quân Minh thừa hội xâm lăng Bốn bề hổ thét chim kêu Bốn phương khói lửa bừng bừng Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình Xiết bao thảm hoạ xương rừng máu sông! Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước Chút thân tàn lần bước dặm khơi Nơi đô thị thành tung quách vỡ Trông con tầm tã châu rơi Chốn dân gian bỏ vợ lìa con Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên: Làm cho xiêu tán hao mòn Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!” (Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định Văn học, 1984) Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay Trời Nam riêng một cõi này Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì! Chú thích: Trần Tuấn Khải (1895- 1983), bút hiệu là Á Nam. Quê quán: làng Quang Xán, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định. Trần Tuấn Khải là một nhà yêu nước, Ông thường mượn những đề tài lịch sử, hoặc những biểu tượng nghệ thuật để bộc lộ nỗi đau mất nước, nỗi căm thù quân giặc thêm vào đó là khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào, tỏ lòng khát khao độc lập, tự do.
Dựa vào những thông tin đã cung cấp, em hãy viết một bài văn nghị luận phân tích đoạn thơ trên. LẬP DÀN BÀI Mở bài: -Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm. + Trần Tuấn Khải thường mượn những chuyện lịch sử để giãi bày một cách thầm kín về tấm lòng yêu nước, nỗi đau mất nước và mong muốn thức tỉnh tinh thần của đồng bào ở nhân dân. 11 + Dưới hình thức song thất lục bát, bài thơ “Hai chữ nước nhà” là một bài thơ như thế.
- Nêu ý kiến chung về tác phẩm. + Tâm sự, nỗi đau mất nước và khơi gợi tinh thần yêu nước của nhân dân trong bối cảnh non sông đang bị giày xéo bởi gót giày thực dân. Thân bài: Phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Đoạn 1: phân tích khái quát nội dung bài thơ.
-Bài thơ được khởi nguồn từ cuộc chia tay cảm động có thực đã được ghi vào lịch sử của hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan. -Trần Tuấn Khải đã kí thác tâm trạng, cảm xúc hiện tại rất thực của mình. -Người ra đi nói lời vĩnh biệt với tổ quốc, quê hương, vĩnh biệt người con thân yêu của mình. -Tâm trạng “ảm đạm, đìu hiu” phủ lên khung cảnh vốn đã heo hút “hổ thét, chim kêu”, “cảnh như khêu bất bình” một màu tang tóc, thê lương.
-Tâm sầu, cảnh sầu cũ khơi gợi lẫn nhau thành một mối sầu thảm tái tê, u hoài dằng dặc. -Đoạn thơ này tạo ra không khí chung cho toàn bài, không khí thời cuộc năm xưa Đoạn 2: Phân tích những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.(Phân tích theo bố cục bài thơ) Hình ảnh đầm đìa máu lệ: “Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tài lần bước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên.” -Cảnh đất nước lầm than, cha con li biệt. -Tình đất nước lớn lao hòa trong tình phụ tử sâu nặng Nguyễn Phi Khanh bị giải sang Tàu. -Đó lời gan ruột, mà cha muốn con khắc cốt ghi tâm.
-Lấy nó làm động lực, lẽ sống cho mình. -Đó cùng là lời mà Trần Tuấn Khải muốn muôn dân nhớ lấy trong thực cảnh đau thương của đất nước. -Sử dụng yếu tố tự sự “Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước” và miêu tả “lần bước dặm khơi, tầm tã châu rơi” xen lẫn những lời cảm thán “Con ơi” để làm nổi bật nỗi đau mất nước nhà tan, tất cả đang chìm ngập trong thảm họa "xương rừng máu sông"; uất hận sầu đau đang ngùn ngụt ngút trời: “Thảm vong quốc kể sao xiết kể, Trông cơ đổ nhường xé tâm can, 12 Ngậm ngùi đất khóc giời than, Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!” -Nỗi đau của đất nước, giống nòi. -Sự lớn lao ấy được diễn tả bằng hàng loạt các hình ảnh mang tầm vóc vĩ mô: “vong quốc, cơ đồ, đất khóc, giời than, nòi giống”.
-Lời tâm sự ẩn chữa nỗi đau thống thiết, mãnh liệt biểu hiện qua những từ ngữ diễn tả tình cảm ở cung bậc mạnh, thiết tha, ai oán: “kể sao kể xiết, xé tâm can, ngậm ngùi, khóc than, thương tâm”. -Mỗi lời thơ là một tiếng kêu than đứt ruột, đầy căm hơn, uất nghẹn, bi phẫn của người dân yêu nước sống trong cảnh nước mất lầm than. -Cha tiếp tục nhắn nhủ những lời tâm huyết với con: “Cha xót phận tuổi già sức yếu, Lỡ sa cơ đành chịu bó tay, Thân lươn bao quản vũng lầy, Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Con nên nhớ tổ tông khi trước, Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao, Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây.” -Cha đã lâm vào thực tế xót xa "tuổi già sức yếu" nay lại gặp cảnh nguy nan, đành uất hận, tủi hờn trong bất lực. - Con hãy nhớ về truyền thống kiên cường, bất khuất của ông cha trong lịch sử chống giặc và thắng giặc. -Con hãy nhìn vào thực trạng của đất nước mà hướng tới ngọn cờ độc lập. -Con hãy thắp trong mình ngọn lửa căm thù lũ xâm lăng, ngọn lửa ý chí quyết tâm chống giặc bảo vệ non sông xã tắc.
- Con hãy biến biến nỗi đau mất cha thành nỗi hận mất nước. KB: Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài thơ. -Lời cha dặn là lời người xưa dặn, lời của người chí sĩ yêu nước muốn nhắn nhủ đến thế hệ hôm nay nhằm khơi gợi tinh thần yêu nước thương nòi. -Khơi gợi ý chí đấu tranh chống quân xâm lược giành độc lập tự do cho dân tộc.
-Bằng tình cảm sâu đậm, mãnh liệt, với một giọng điệu thống thiết, thán ca, tác giả của “Hai chữ nước nhà” đã thực hiện bổn phận, sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ yêu nước. -Thơ ông thôi thúc lòng người, khích lệ mọi người tranh đấu cho giang sơn độc lập, tự do. 13 BÀI VIẾT THAM KHẢO Trần Tuấn Khải thường mượn những chuyện lịch sử để giãi bày một cách thầm kín về tấm lòng yêu nước, nỗi đau mất nước và mong muốn thức tỉnh tinh thần của đồng bào ở nhân dân. Ở những năm đầu thế kỉ XX, ông là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu với giọng điệu bi tráng, thống thiết.
Dưới hình thức song thất lục bát, bài thơ “Hai chữ nước nhà” là một bài thơ như thế. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tâm sự, nỗi đau mất nước và khơi gợi tinh thần yêu nước của nhân dân trong bối cảnh non sông đang bị giày xéo bởi gót giày thực dân. Bài thơ được khởi nguồn từ cuộc chia tay cảm động có thực đã được ghi vào lịch sử của hai cha con Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan. Trong khoảnh khắc đặc biệt, có sức lay động, Trần Tuấn Khải đã kí thác tâm trạng, cảm xúc hiện tại rất thực của mình.
Trong không gian chia li- cuộc chia li mà người ra đi không hẹn ngày trở về. Người ra đi nói lời vĩnh biệt với tổ quốc, quê hương, vĩnh biệt người con thân yêu của mình. Tâm trạng “ảm đạm, đìu hiu” phủ lên khung cảnh vốn đã heo hút “hổ thét, chim kêu”, “cảnh như khêu bất bình” một màu tang tóc, thê lương. Tâm sầu, cảnh sầu cũ khơi gợi lẫn nhau thành một mối sầu thảm tái tê, u hoài dằng dặc.
Đoạn thơ này tạo ra không khí chung cho toàn bài, không khí thời cuộc năm xưa (thời Phi Khanh - Nguyễn Trãi) và cũng là không khí của xã hội Việt Nam những năm 20 của thế kỉ XX. Hình ảnh đầm đìa máu lệ: “Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tài lần bước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên.” Cảnh đất nước lầm than, cha con li biệt. Tình đất nước lớn lao hòa trong tình phụ tử sâu nặng Nguyễn Phi Khanh bị giải sang Tàu. Để làm tròn đạo hiếu với cha già, Nguyễn Trãi muốn đi theo để phụng dưỡng.
Nhưng Phi Khanh gạt tình riêng, dằn lòng khuyên con trở lại với lời dặn: “Đền nợ cho nước, trả thù cho cha đó mới là đại hiếu” Đó lời gan ruột, mà cha muốn con khắc cốt ghi tâm. Lấy nó làm động lực, lẽ sống cho mình. Đó cùng là lời mà Trần Tuấn Khải muốn muôn dân nhớ lấy trong thực cảnh đau thương của đất nước. Trong cảnh đất nước rơi vào cảnh lầm than nô lệ.
Trong đó tác giả sử dụng cả tự sự “Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước” và miêu tả “lần bước dặm khơi, tầm tã châu rơi” xen lẫn những lời cảm thán “Con ơi” để làm nổi bật nỗi đau mất nước nhà tan, tất cả đang chìm ngập trong thảm họa "xương rừng máu sông"; uất hận sầu đau đang ngùn ngụt ngút trời: “Thảm vong quốc kể sao xiết kể, 14 Trông cơ đổ nhường xé tâm can, Ngậm ngùi đất khóc giời than, Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!” Nỗi đau của nhân vật trữ tình là một nỗi đau lớn, nỗi đau cao cả, thiêng liêng cao cả. Nỗi đau của đất nước, giống nòi. Sự lớn lao ấy được diễn tả bằng hàng loạt các hình ảnh mang tầm vóc vĩ mô: “vong quốc, cơ đồ, đất khóc, giời than, nòi giống”. Lời tâm sự ẩn chữa nỗi đau thống thiết, mãnh liệt biểu hiện qua những từ ngữ diễn tả tình cảm ở cung bậc mạnh, thiết tha, ai oán: “kể sao kể xiết, xé tâm can, ngậm ngùi, khóc than, thương tâm”.
Mỗi lời thơ là một tiếng kêu than đứt ruột, đầy căm hơn, uất nghẹn,bi phẫn của người dân yêu nước sống trong cảnh nước mất lầm than. Người con ấy chẳng đủ nước mắt để khóc than cho những đớn đau đang tràn ngập giang sơn, đắng cay đành nuốt sâu trong dạ. Cha tiếp tục nhắn nhủ những lời tâm huyết với con: “Cha xót phận tuổi già sức yếu, Lỡ sa cơ đành chịu bó tay, Thân lươn bao quản vũng lầy, Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Con nên nhớ tổ tông khi trước, Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao, Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây.” Cha đã lâm vào thực tế xót xa "tuổi già sức yếu" nay lại gặp cảnh nguy nan, đành uất hận, tủi hờn trong bất lực. Do đó, cha nhờ cậy, gửi gắm vào con. Con hãy nhớ về truyền thống kiên cường, bất khuất của ông cha trong lịch sử chống giặc và thắng giặc. Con hãy nhìn vào thực trạng của đất nước mà hướng tới ngọn cờ độc lập.